Việc chia thừa kế cho con nuôi thực hiện thế nào khi cha mẹ nuôi chưa đăng ký nuôi con?

Chế định con nuôi và thừa kế luôn có vai trò quan trọng trong pháp luật dân sự, nhằm bảo đảm quyền nhân thân, quyền tài sản và sự ổn định của các quan hệ gia đình – xã hội. Tuy nhiên, trên thực tế tại Việt Nam, rất nhiều trường hợp cha mẹ nhận nuôi trẻ không thực hiện thủ tục đăng ký nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật. Hệ quả là khi một trong hai bên qua đời, vấn đề con nuôi không có giấy tờ đăng ký nuôi con nuôi sẽ phát sinh tranh chấp về quyền thừa kế.

II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

1. Cơ sở pháp lý điều chỉnh

Các quy định pháp luật liên quan trực tiếp bao gồm:

  1. Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS 2015)
    1. Điều 651 – Người thừa kế theo pháp luật.
    1. Điều 654 – Quan hệ thừa kế giữa con nuôi và cha mẹ nuôi.
  2. Luật Nuôi con nuôi 2010
    1. Điều 22 – Hậu quả pháp lý của việc nuôi con nuôi.
    1. Điều 50 – Xử lý đối với trường hợp nuôi con nuôi thực tế trước ngày Luật có hiệu lực.
  3. Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC (đang còn hiệu lực phần liên quan) – hướng dẫn công nhận nuôi con nuôi thực tế.

2. Quy định về quyền thừa kế giữa cha mẹ nuôi – con nuôi

2.1. Quyền thừa kế khi việc nuôi con nuôi được đăng ký hợp pháp

Điều 654 BLDS 2015 quy định:

“Con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi được thừa kế tài sản của nhau…”

Điều 22 Luật Nuôi con nuôi 2010 cũng khẳng định:

“Giữa con nuôi và cha mẹ nuôi phát sinh đầy đủ quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con kể từ thời điểm đăng ký nuôi con nuôi.”

→ Như vậy: chỉ khi việc nuôi con nuôi được đăng ký thì mới phát sinh quyền thừa kế đương nhiên theo pháp luật.

Tuy nhiên, vấn đề đặt ra: trước đây nhiều trường hợp không đăng ký vì lý do xã hội, phong tục, hoặc hoàn cảnh, vậy con nuôi thực tế có được hưởng thừa kế không?

3. Trường hợp cha mẹ nuôi chưa đăng ký nuôi con: Có được hưởng thừa kế hay không?

Trả lời vấn đề này cần xem xét hai giai đoạn pháp lý:

3.1. Trường hợp nuôi con nuôi thực tế trước ngày 01/01/2011 (ngày Luật Nuôi con nuôi có hiệu lực)

Điều 50 Luật Nuôi con nuôi 2010 quy định:

“Quan hệ nuôi dưỡng phát sinh từ việc nuôi con nuôi thực tế trước ngày Luật này có hiệu lực được khuyến khích và được pháp luật bảo vệ nếu đáp ứng điều kiện:
– Có việc nuôi dưỡng, chăm sóc thực tế;
– Hai bên coi nhau là cha mẹ – con;
– Xã hội, cộng đồng thừa nhận.”

Đồng thời Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP hướng dẫn:

Tòa án có thể công nhận quan hệ nuôi con nuôi thực tế nếu có bằng chứng về việc chăm sóc, nuôi dưỡng lâu dài, mặc dù không đăng ký.

→ Khi Tòa án công nhận quan hệ nuôi con nuôi thực tế, thì sẽ áp dụng Điều 654 BLDS 2015 → Con nuôi thực tế được hưởng thừa kế như con nuôi hợp pháp.

Kết luận phần này:
✔ Nếu quan hệ nuôi con nuôi diễn ra trước 2011, và được Tòa án công nhận, thì con nuôi được hưởng thừa kế như con ruột.

3.2. Trường hợp nuôi con nuôi thực tế sau ngày 01/01/2011 (Luật Nuôi con nuôi 2010 đã có hiệu lực)

Đây là vấn đề thường xuyên gây tranh chấp.

Luật Nuôi con nuôi 2010 quy định bắt buộc phải đăng ký, và không có điều khoản thừa nhận nuôi con nuôi thực tế sau năm 2011.

→ Quan hệ nuôi con nuôi không đăng ký không làm phát sinh quyền thừa kế theo Điều 654 BLDS.

Tuy nhiên vẫn có hai hướng xử lý:

Hướng 1 – Người “con nuôi thực tế” không được hưởng thừa kế theo pháp luật

  • Không có đăng ký → Không phát sinh quan hệ cha mẹ – con theo Điều 22 Luật Nuôi con nuôi.
  • Điều 654 BLDS chỉ áp dụng cho “con nuôi” được pháp luật công nhận.

→ Không được xếp vào hàng thừa kế thứ nhất theo Điều 651 BLDS.

Hướng 2 – Vẫn có thể hưởng tài sản theo các cơ chế khác

Dù không được hưởng thừa kế theo pháp luật, người con nuôi thực tế vẫn có thể nhận tài sản theo 3 con đường:

(1) Được hưởng di sản theo di chúc

Nếu cha mẹ có lập di chúc để lại tài sản cho người con nuôi thực tế → được hưởng hợp pháp theo Điều 626 và Điều 630 BLDS.

→ Trường hợp này không phụ thuộc vào đăng ký nuôi con nuôi.

(2) Được xem xét hưởng thừa kế theo Điều 644 BLDS – Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc (nếu thuộc diện phụ thuộc)

Điều 644 BLDS:
Người được hưởng phần di sản bắt buộc gồm:

  • Con chưa thành niên
  • Con đã thành niên nhưng mất khả năng lao động

→ Nếu người “con nuôi thực tế” (nhưng chưa được công nhận) là người phụ thuộc vào cha mẹ nuôi, tòa án có thể xem xét bảo vệ quyền lợi tối thiểu.

(3) Được nhận tài sản thông qua cơ chế chia phần công sức đóng góp (Điều 612 BLDS)

Nếu con nuôi thực tế có:

  • Công sức chăm sóc cha/mẹ nuôi,
  • Công sức đóng góp vào việc tạo lập tài sản,
  • Công sức trông nom, duy trì tài sản…

→ Tòa án có thể tách phần tài sản tương ứng trước khi chia thừa kế.

Căn cứ: Điều 612 BLDS – Di sản để lại bao gồm tài sản của người chết sau khi trừ phần tài sản người khác có quyền đối với tài sản đó.

4. Thực tiễn xét xử

Tòa án Nhân dân Tối cao nhiều lần khẳng định:

  • Chỉ công nhận nuôi con nuôi thực tế nếu quan hệ phát sinh trước 2011, dựa trên án lệ và hướng dẫn của Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP.
  • Với trường hợp sau 2011:
    → chỉ thừa nhận thông qua di chúc hoặc phần công sức đóng góp, không công nhận thừa kế theo pháp luật.

III. KẾT LUẬN

Việc chia thừa kế cho con nuôi khi chưa đăng ký nuôi con phụ thuộc vào thời điểm hình thành quan hệ nuôi con nuôi:

1. Nếu việc nuôi con nuôi diễn ra trước 01/01/2011:

✔ Có thể được Tòa án công nhận là nuôi con nuôi thực tế.
✔ Khi được công nhận → được hưởng thừa kế theo pháp luật như con đẻ (Điều 654, 651 BLDS).

2. Nếu việc nuôi con nuôi diễn ra từ 01/01/2011 trở về sau:

Không được xem là cha mẹ nuôi – con nuôi hợp pháp.
Không được hưởng thừa kế theo pháp luật.

Tuy nhiên, vẫn có thể được nhận tài sản theo các con đường khác:

  • ✔ Theo di chúc (Điều 626, 630 BLDS)
  • ✔ Theo di sản bắt buộc (Điều 644 BLDS)
  • ✔ Theo phần công sức đóng góp đối với tài sản (Điều 612 BLDS)

Liên hệ Luật sư tư vấn:

Liên hệ Luật sư tư vấn: Luật TLA là một trong những đơn vị luật sư hàng đầu, với đội ngũ luật sư, cán bộ nhiều kinh nghiệm trong các lĩnh vực hình sự, dân sự, doanh nghiệp, hôn nhân và gia đình,… Chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ, giải đáp mọi thắc mắc về pháp lý của bạn. Nếu bạn còn thắc mắc về nội dung này, hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được giải đáp thắc mắc.

1. Luật sư Vũ Thị Phương Thanh, Chủ tịch HĐTV Công ty Luật TNHH TLA, Đoàn Luật sư Hà Nội, 
email: vtpthanh@tlalaw.vn;
2. Luật sư Trần Mỹ Lê, Giám đốc Công ty Luật TNHH TLA, Đoàn Luật sư Hà Nội; 
email: tmle@tlalaw.vn

Địa chỉ: Tầng 7, số 06 Dương Đình Nghệ, Yên Hòa, Hà Nội
Website: https://tlalaw.vn/
Hotline: 0906246464

Khương Ngọc Lan

Bài liên quan