
- Thông tin các bên
- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S
+ Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Công ty TNHH MTV Q1 và khai thác tài sản Ngân hàng S (Văn bản ủy quyền số 2535A/2022/GUQ-PL ngày 12/10/2022)
Trụ sở: 278 N, phường V, (nay là phường X), Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh Công ty TNHH MTV Q1 và khai thác tài sản Ngân hàng S ủy quyền lại cho ông Nguyễn Minh T – sinh năm: 1973
Địa chỉ: 8 đường số H, Phường A, quận G (nay là phường T), Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền số 5191/2023/UQ-TGĐ ngày 27/12/2023)
- Bị đơn: Bà Hà Như Q, sinh năm: 1983 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số C đường số H, phường A, thành phố T (nay là phường A,Thành phố Hồ Chí Minh)
- Tóm tắt nội dung vụ án
Ngân hàng TMCP S khởi kiện bà Hà Như Q do vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong hai quan hệ tín dụng. Theo Ngân hàng, ngày 29/4/2020 bà Q ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng với hạn mức 50 triệu đồng; bà đã chi tiêu tổng cộng 69.502.806 đồng và mới thanh toán 33.937.988 đồng theo quy định ưu tiên trả phí và lãi trước. Do không trả nợ đúng hạn, ngày 06/10/2021 Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn; tính đến 05/9/2025 bà Q còn nợ 160.246.986 đồng (gồm nợ gốc và lãi quá hạn). Ngoài ra, theo hợp đồng vay tiêu dùng ngày 27/4/2020, bà Q vay 200.000.000 đồng trong 60 tháng nhưng thường xuyên thanh toán trễ hạn, không hợp tác dù đã được nhắc nhở; Ngân hàng đã chuyển khoản vay sang nợ quá hạn và xác định đến 05/9/2025 bà Q còn nợ tổng cộng 327.564.367 đồng (gồm nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn và lãi trên số tiền lãi chậm trả). Tổng cộng hai khoản nợ bà Q phải thanh toán một lần là 487.811.353 đồng và tiếp tục chịu lãi phát sinh từ 06/9/2025 cho đến khi trả hết. Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng luôn vắng mặt, không gửi ý kiến nên không thể hòa giải. Đại diện Viện kiểm sát nhận định quá trình tố tụng được thực hiện đúng quy định và đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc bà Q phải chịu án phí theo luật định.
- Tóm tắt nhận định của toà án
– Thứ nhất, về tố tụng và việc xét xử vắng mặt bị đơn
Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Hà Như Q thanh toán số nợ phát sinh từ hợp đồng thẻ tín dụng (29/4/2020) và hợp đồng vay tiêu dùng (27/4/2020). Tuy nhiên, địa chỉ cư trú mà bà Q cung cấp trong hồ sơ vay cũng như trong đơn khởi kiện đều không đúng thực tế; công an phường A – TP.HCM và công an xã T – tỉnh Thái Nguyên xác minh bà Q không cư trú tại cả hai địa chỉ này. Tòa án yêu cầu Ngân hàng cung cấp địa chỉ mới hoặc chấp nhận đăng thông báo trên phương tiện đại chúng nhưng Ngân hàng không cung cấp được và cũng không đồng ý đăng báo, đề nghị tống đạt theo địa chỉ trong hồ sơ vay. Căn cứ BLTTDS 2015 và Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP, vụ án thuộc thẩm quyền TAND Khu vực 2 – TP.HCM. Bà Q đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng luôn vắng mặt, không gửi tài liệu và không trình bày ý kiến; do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo Điều 227, 228 BLTTDS 2015.
– Thứ hai, về quan hệ hợp đồng và nghĩa vụ trả nợ của bị đơn
Đối với thẻ tín dụng Visa được cấp ngày 29/4/2020, bà Q có hạn mức 50.000.000 đồng, lãi suất trong hạn 2,40%/tháng, lãi suất quá hạn 150%, phù hợp Luật Các tổ chức tín dụng. Bà Q đã giao dịch tổng cộng 69.502.806 đồng và chỉ thanh toán 33.937.988 đồng (ưu tiên phí và lãi trước). Do vi phạm nghĩa vụ thanh toán, Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ ngày 06/10/2021 và chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn theo Điều khoản phát hành thẻ.
Đối với hợp đồng vay tiêu dùng ngày 27/4/2020, bà Q vay 200.000.000 đồng, thời hạn 60 tháng, lãi 18%/năm, lãi quá hạn 150%. Bà Q thường xuyên thanh toán trễ và không hợp tác, nên Ngân hàng chuyển toàn bộ khoản vay sang nợ quá hạn. Tòa án đã giao các thông báo tố tụng nhưng bà Q đều vắng mặt và không cung cấp chứng cứ nào để chứng minh đã thanh toán hay có phản đối. Do đó, yêu cầu của Ngân hàng buộc bà Q trả nợ thẻ tín dụng 160.246.986 đồng và nợ vay tiêu dùng 327.564.367 đồng (tổng cộng 487.811.353 đồng tính đến 05/9/2025) được xác định là có căn cứ, phù hợp Điều 466 và khoản 1 Điều 468 BLDS 2015.
– Thứ ba, về nghĩa vụ tài chính và án phí
Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc bà Hà Như Q thanh toán một lần toàn bộ số nợ tính đến 05/9/2025 và tiếp tục trả lãi phát sinh sau ngày 06/9/2025 đến khi hoàn tất nghĩa vụ. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 23.512.454 đồng, còn Ngân hàng không phải chịu án phí.
- Nhận xét, bình luận bản án
- Thứ nhất, về tố tụng và thẩm quyền
Tòa án xác định đây là tranh chấp hợp đồng dân sự (hợp đồng thẻ tín dụng và vay tiêu dùng), thuộc thẩm quyền TAND Khu vực 2 – TP. Hồ Chí Minh theo khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 14 Điều 35 BLTTDS. Mặc dù địa chỉ thực tế của bị đơn không rõ, Tòa đã xác minh tại công an địa phương và yêu cầu nguyên đơn cung cấp địa chỉ mới nhưng không có kết quả. Do bị đơn không thông báo thay đổi nơi cư trú cho ngân hàng, Tòa sử dụng địa chỉ ghi trong hồ sơ vay để tống đạt theo điểm a khoản 2 Điều 6 NQ 04/2017. Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng luôn vắng mặt, không cung cấp chứng cứ, nên Tòa xét xử vắng mặt theo Điều 227–228 BLTTDS. → Tất cả thủ tục tố tụng đều chính xác và phù hợp pháp luật.
- Thứ hau, về quan hệ tín dụng và nghĩa vụ trả nợ
Tòa xác định hai hợp đồng được ký kết hợp pháp:
- Hợp đồng thẻ tín dụng Visa 50.000.000đ: Lãi suất 2.40%/tháng, lãi quá hạn 150% lãi trong hạn – phù hợp Luật Các TCTD. Bà Q đã chi tiêu 69.502.806đ, thanh toán 33.937.988đ (ưu tiên thu phí/lãi), còn nợ và bị chuyển sang nợ quá hạn từ 06/10/2021 theo đúng điều khoản hợp đồng.
- Hợp đồng vay tiêu dùng 200.000.000đ: Lãi suất 18%/năm, lãi quá hạn 150% lãi trong hạn. Bị đơn trả chậm và không hợp tác, ngân hàng chuyển toàn bộ khoản vay sang nợ quá hạn là đúng thỏa thuận.
Do bị đơn không cung cấp ý kiến hay chứng cứ phản bác, Tòa chấp nhận bảng tính của ngân hàng và buộc bà Q phải thanh toán tổng cộng 487.811.353đ, gồm:
- Nợ thẻ tín dụng: 160.246.986đ,
- Nợ vay tiêu dùng: 327.564.367đ,
và tiếp tục chịu lãi quá hạn sau ngày xét xử theo Điều 466–468 BLDS 2015 và hợp đồng tín dụng.
→ Lập luận của Tòa chặt chẽ, bám sát hợp đồng và luật chuyên ngành. - Thứ ba, về án phí và nhận xét chung
Tòa tính án phí 5% trên tổng nghĩa vụ phải trả, tương đương 23.512.454đ, phù hợp Nghị quyết 326/2016. Ngân hàng không phải chịu án phí.
Đánh giá chung: Bản án có lập luận rõ ràng, thủ tục tố tụng đúng, chứng cứ ngân hàng xuất trình đầy đủ và không bị bị đơn phản bác. Việc Tòa chấp nhận hoàn toàn yêu cầu khởi kiện là hợp lý. Tòa áp dụng linh hoạt NQ 04/2017 trong xác định nơi cư trú và xử lý trường hợp bị đơn không hợp tác, phù hợp thực tiễn các vụ án tín dụng tiêu dùng và thẻ tín dụng hiện nay.
Liên hệ Luật sư tư vấn:
Liên hệ Luật sư tư vấn: Luật TLA là một trong những đơn vị luật sư hàng đầu, với đội ngũ luật sư, cán bộ nhiều kinh nghiệm trong các lĩnh vực hình sự, dân sự, doanh nghiệp, hôn nhân và gia đình,… Chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ, giải đáp mọi thắc mắc về pháp lý của bạn. Nếu bạn còn thắc mắc về nội dung này, hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được giải đáp thắc mắc.
1. Luật sư Vũ Thị Phương Thanh, Chủ tịch HĐTV Công ty Luật TNHH TLA, Đoàn Luật sư Hà Nội,
email: vtpthanh@tlalaw.vn;
2. Luật sư Trần Mỹ Lê, Giám đốc Công ty Luật TNHH TLA, Đoàn Luật sư Hà Nội;
email: tmle@tlalaw.vn
Địa chỉ: Tầng 7, số 06 Dương Đình Nghệ, Yên Hòa, Hà Nội
Website: https://tlalaw.vn/
Hotline: 0906246464
Khương Ngọc Lan