BÌNH LUẬN BẢN ÁN SỐ 01/2022/DSST NGÀY 07/01/2022 CỦA TAND Q. NINH KIỀU, TP. CẦN THƠ VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ

1. Tóm tắt vụ án

– Nguyên đơn: Phan Huỳnh Nguyên, sinh năm 1988

– Bị đơn: Ông Nguyễn Anh Thy, sinh năm 1980

Từ ngày 16/7/2020 đến 28/8/2020, ông Nguyên đã chuyển cho ông Thy tổng cộng 100.000.000 đồng để thuê thực hiện dịch vụ chuyển mục đích sử dụng đất từ đất LUA sang đất ODT đối với thửa đất số 1852, tờ bản đồ số 53 tại phường An Bình, quận Ninh Kiều, TP. Cần Thơ. Hai bên có lập văn bản thỏa thuận dịch vụ được công chứng ngày 28/8/2020, thời hạn thực hiện là 30 ngày. Theo thỏa thuận, nếu không hoàn thành công việc đúng hạn thì ông Th phải hoàn trả 100.000.000 đồng và bồi thường thêm 100.000.000 đồng.

Sau khi nhận đủ tiền, ông Thy không thực hiện được việc chuyển mục đích sử dụng đất, chỉ hoàn trả cho ông Ng 2.000.000 đồng. Do tin tưởng hợp đồng dịch vụ, ông Nguyên đã ký hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng thửa đất cho ông Huỳnh Thanh Hiền và nhận tiền cọc 200.000.000 đồng. Tuy nhiên, do không chuyển được mục đích sử dụng đất, hai bên phải chấm dứt hợp đồng đặt cọc; ông Ng đã hoàn trả 200.000.000 đồng tiền cọc và bồi thường thêm 90.000.000 đồng cho ông Hiền.

Ông Ng khởi kiện yêu cầu ông Thy hoàn trả 98.000.000 đồng tiền dịch vụ còn lại và bồi thường 90.000.000 đồng thiệt hại, tổng cộng 188.000.000 đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Th vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ.

2. Nhận định của Tòa án

Xét thấy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn hoàn trả tiền thuê dịch vụ và bồi thường thiệt hại phát sinh từ việc vi phạm thỏa thuận thuê thực hiện công việc. Do đó, có đủ căn cứ xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các bên là tranh chấp về “Hợp đồng dịch vụ”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét về thẩm quyền theo lãnh thổ, bị đơn cư trú tại quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đối với bị đơn, trong quá trình giải quyết vụ án đã nhiều lần vắng mặt không có lý do chính đáng, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng bằng hình thức tống đạt trực tiếp và niêm yết công khai. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.

Về khoản tiền trong hợp đồng dịch vụ:

Giữa nguyên đơn và bị đơn đã có sự thỏa thuận và ký kết văn bản thỏa thuận có công chứng vào ngày 28/8/2020. Theo nội dung thỏa thuận, nguyên đơn ông Phan Huỳnh Nguyên giao cho ông Nguyễn Anh Thy thực hiện thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất từ đất LUA sang đất ODT đối với thửa đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Nguyên, với giá trị thực hiện công việc là 100.000.000 đồng và thời hạn hoàn thành là 30 ngày. Sau khi giao kết hợp đồng, nguyên đơn đã thanh toán đầy đủ số tiền theo thỏa thuận, tuy nhiên bị đơn không thực hiện được công việc như cam kết, dẫn đến phát sinh tranh chấp.

Trên cơ sở đó, có đủ căn cứ xác định thỏa thuận giữa các bên là hợp đồng dịch vụ và được điều chỉnh bởi các quy định của Bộ luật Dân sự hiện hành, cụ thể từ Điều 513 đến Điều 621.

Xét thấy, hợp đồng dịch vụ nêu trên được các bên xác lập trên tinh thần tự nguyện, có hình thức phù hợp và được công chứng theo quy định pháp luật. Do đó, đây là những tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, và có cơ sở khẳng định các bên đã giao kết hợp đồng dịch vụ với nội dung như đã trình bày.

Về nghĩa vụ hoàn trả tiền theo hợp đồng dịch vụ:

Xét về nội dung hợp đồng, theo Điều 514 Bộ luật Dân sự, đối tượng của hợp đồng dịch vụ phải là công việc có khả năng thực hiện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Tuy nhiên, trong trường hợp này, nội dung thỏa thuận giữa ông Nguyên và ông Thy là việc ông Thy phải thực hiện thủ tục để chuyển mục đích sử dụng đất từ đất trồng lúa (LUA) sang đất ở đô thị (ODT). Đây là công việc vượt ngoài khả năng thực hiện của cá nhân, bởi theo quy định của pháp luật đất đai, thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất thuộc về cơ quan nhà nước có thẩm quyền, căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và các điều kiện pháp luật có liên quan. Cá nhân chỉ có thể thực hiện việc chuẩn bị, nộp hồ sơ, không có quyền quyết định việc chuyển mục đích sử dụng đất.

Do đó, đối tượng của hợp đồng dịch vụ trong trường hợp này là công việc mà bị đơn không có quyền năng pháp lý để thực hiện, dẫn đến việc hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp luật và bị vô hiệu ngay từ thời điểm giao kết theo quy định tại Điều 123 Bộ luật Dân sự. Theo Điều 131 Bộ luật Dân sự, hợp đồng vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập. Đồng thời, việc hợp đồng bị vô hiệu là do lỗi của cả hai bên, bởi các bên đều nhận thức được thẩm quyền đối với việc chuyển mục đích sử dụng đất nhưng vẫn thỏa thuận giao kết hợp đồng, nên có trách nhiệm hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Căn cứ các chứng từ sao kê ngân hàng, có đủ cơ sở xác định ông Nguyên đã nhiều lần chuyển cho ông Thy tổng số tiền 100.000.000 đồng. Nguyên đơn thừa nhận bị đơn mới hoàn trả được 2.000.000 đồng. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, mặc dù bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như thông báo thụ lý, thông báo hòa giải và quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng không có ý kiến phản hồi hoặc phản đối. Vì vậy, có đủ căn cứ pháp lý để buộc ông Thy phải hoàn trả cho ông Nguyên số tiền còn lại là 98.000.000 đồng.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh từ hợp đồng dịch vụ:

Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn bồi thường thiệt hại, căn cứ khoản 4 Điều 131 Bộ luật Dân sự quy định bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường. Như đã phân tích, việc hợp đồng dịch vụ bị vô hiệu xuất phát từ lỗi của cả ông Nguyên và ông Thy do các bên đã thỏa thuận thực hiện một công việc không thể thực hiện được, vì vậy mỗi bên phải chịu 50% mức độ lỗi đối với hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu.

Theo hợp đồng chấm dứt hợp đồng đặt cọc đã được công chứng, ông Nguyên đã bồi thường cho ông Huỳnh Thanh Hiền số tiền 90.000.000 đồng do không thể thực hiện việc chuyển nhượng thửa đất nêu trên, với cam kết trước đó về việc chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ODT. Do thiệt hại phát sinh có nguyên nhân từ lỗi chung của các bên trong hợp đồng dịch vụ, nên mỗi bên phải gánh chịu 50% thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi. Trên cơ sở đó, bị đơn ông Thy có trách nhiệm bồi thường cho nguyên đơn ông Nguyên số tiền 45.000.000 đồng.

3. Bình luận bản án

Về việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết

Tòa án đã xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp “Hợp đồng dịch vụ” theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xuất phát từ việc bị đơn không thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận thuê thực hiện công việc, đồng thời phát sinh yêu cầu hoàn trả tiền và bồi thường thiệt hại. Việc định danh quan hệ pháp luật tranh chấp là cơ sở quan trọng để áp dụng đúng các quy định của Bộ luật Dân sự về hợp đồng dịch vụ, từ đó bảo đảm việc giải quyết vụ án đúng bản chất pháp lý.

Bên cạnh đó, Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều xác định thẩm quyền giải quyết theo lãnh thổ và theo cấp xét xử là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, do bị đơn cư trú trên địa bàn quận Ninh Kiều. Việc xác định đúng thẩm quyền là tiền đề bảo đảm giá trị pháp lý của bản án.

Về hiệu lực pháp lý của hợp đồng dịch vụ

Hợp đồng dịch vụ giữa các bên được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có hình thức phù hợp và được công chứng theo quy định. Tuy nhiên, đối tượng của hợp đồng dịch vụ trong vụ việc này là việc “chuyển mục đích sử dụng đất từ LUA sang ODT”, đây là thẩm quyền thuộc về cơ quan nhà nước có thẩm quyền, không phải cá nhân có thể tự quyết định.

Theo Điều 514 Bộ luật Dân sự, đối tượng của hợp đồng dịch vụ phải là công việc có thể thực hiện được. Việc các bên thỏa thuận một công việc mà về mặt pháp lý không thể do cá nhân thực hiện đã làm cho đối tượng của hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử xác định hợp đồng vô hiệu theo Điều 123 Bộ luật Dân sự là hoàn toàn có cơ sở và phù hợp với quy định hiện hành.

Việc tuyên hợp đồng vô hiệu ngay từ thời điểm giao kết phản ánh đúng bản chất của quan hệ pháp luật, đồng thời tránh việc hợp thức hóa các giao dịch tiềm ẩn rủi ro pháp lý trong lĩnh vực đất đai.

Về trách nhiệm hoàn trả tiền khi hợp đồng vô hiệu

Theo Điều 131 Bộ luật Dân sự, hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu là các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trong vụ việc này, có đầy đủ chứng cứ chứng minh nguyên đơn đã chuyển cho bị đơn tổng số tiền 100.000.000 đồng. Bị đơn mới hoàn trả được 2.000.000 đồng và không có ý kiến phản đối trong suốt quá trình tố tụng, dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng.

Do đó, việc Tòa án buộc bị đơn hoàn trả cho nguyên đơn số tiền còn lại là 98.000.000 đồng là phù hợp cả về mặt pháp lý lẫn thực tiễn. Phán quyết này bảo đảm nguyên tắc khôi phục lại tình trạng ban đầu của các bên khi giao dịch vô hiệu, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên bị thiệt hại.

Về xác định lỗi và trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Một điểm đáng chú ý trong bản án là việc Hội đồng xét xử không mặc nhiên buộc bị đơn chịu toàn bộ trách nhiệm bồi thường, mà đã xem xét đầy đủ yếu tố lỗi của các bên. Thực tế cho thấy, cả nguyên đơn và bị đơn đều nhận thức được hoặc phải nhận thức được rằng việc chuyển mục đích sử dụng đất không thuộc thẩm quyền của cá nhân. Tuy nhiên, các bên vẫn thỏa thuận giao kết hợp đồng và thực hiện giao dịch.

Do đó, việc xác định mỗi bên chịu 50% lỗi dẫn đến hợp đồng vô hiệu là hợp lý, thể hiện nguyên tắc công bằng và cân bằng lợi ích trong giải quyết tranh chấp dân sự. Trên cơ sở thiệt hại thực tế phát sinh là khoản tiền 90.000.000 đồng mà nguyên đơn đã bồi thường cho bên thứ ba, Tòa án buộc bị đơn bồi thường 45.000.000 đồng là phù hợp với khoản 4 Điều 131 Bộ luật Dân sự.

Tuy nhiên, có thể đặt ra vấn đề tranh luận rằng: bị đơn là người nhận tiền, chủ động cam kết thực hiện công việc, nên mức độ lỗi thực tế có thể lớn hơn so với nguyên đơn. Dù vậy, trong bối cảnh nguyên đơn cũng có hiểu biết nhất định về pháp luật đất đai và tự nguyện giao kết hợp đồng, việc chia đều mức độ lỗi vẫn có cơ sở chấp nhận.

Về trách nhiệm phát sinh đối với bên thứ ba

Thiệt hại phát sinh từ việc nguyên đơn phải chấm dứt hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bên thứ ba là hậu quả gián tiếp của việc hợp đồng dịch vụ không thể thực hiện. Tòa án đã đánh giá đúng mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng dịch vụ và thiệt hại thực tế xảy ra, từ đó chấp nhận yêu cầu bồi thường một phần của nguyên đơn.

Cách tiếp cận này cho thấy Tòa án không chỉ xem xét thiệt hại trực tiếp giữa các bên trong hợp đồng dịch vụ, mà còn đánh giá đầy đủ hệ quả pháp lý phát sinh từ giao dịch vô hiệu, bảo đảm giải quyết vụ án một cách toàn diện.

Về thủ tục tố tụng và việc xét xử vắng mặt bị đơn

Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bị đơn nhiều lần vắng mặt không lý do, dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định, đồng thời bảo đảm không làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án, ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn.

Việc xét xử vắng mặt trong trường hợp này cũng thể hiện thái độ nghiêm minh của Tòa án đối với đương sự không hợp tác trong quá trình tố tụng.

Tổng thể, bản án thể hiện sự đánh giá thận trọng, đúng pháp luật và có tính thuyết phục cao. Hội đồng xét xử đã vận dụng chính xác các quy định của Bộ luật Dân sự và Bộ luật Tố tụng dân sự, đồng thời bảo đảm nguyên tắc công bằng trong phân chia trách nhiệm giữa các bên. Đây là bản án có giá trị tham khảo thực tiễn cao trong việc giải quyết các tranh chấp hợp đồng dịch vụ liên quan đến lĩnh vực đất đai.

————————————————

Liên hệ Luật sư tư vấn:

Luật TLA là một trong những đơn vị luật sư hàng đầu, với đội ngũ luật sư, cán bộ nhiều kinh nghiệm trong các lĩnh vực hình sự, dân sự, doanh nghiệp, hôn nhân và gia đình,… Chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ, giải đáp mọi thắc mắc về pháp lý của bạn. Nếu bạn còn thắc mắc về nội dung này, hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được giải đáp thắc mắc.

  1. Luật sư Vũ Thị Phương Thanh, Chủ tịch HĐTV Công ty Luật TNHH TLA, Đoàn Luật sư Hà Nội,

email: vtpthanh@tlalaw.vn;

  1. Luật sư Trần Mỹ Lê, Giám đốc Công ty Luật TNHH TLA, Đoàn Luật sư Hà Nội;

email: tmle@tlalaw.vn

Công ty Luật TNHH TLA

Địa chỉ: Tầng 7, số 6 Dương Đình Nghệ, Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội

Website: https://tlalaw.com

Võ Thị Vân Khánh

Bài liên quan