
Cơ sở pháp lý
- Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 ngày 25/11/2015
- Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15 ngày 05/12/2025
Trong thực tiễn thi hành án dân sự, không ít trường hợp người phải thi hành án cho rằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có sai sót và gửi đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm. Tuy nhiên, việc nộp đơn đề nghị không đồng nghĩa với việc quá trình thi hành án sẽ tự động dừng lại. Vậy đề nghị giám đốc thẩm có làm dừng thi hành án không? Người phải thi hành án cần đáp ứng những điều kiện nào để được hoãn hoặc tạm đình chỉ thi hành án? Bài viết dưới đây sẽ phân tích các quy định pháp luật liên quan để làm rõ vấn đề này.
1. Nộp đơn đề nghị giám đốc thẩm có làm dừng thi hành án?
Câu trả lời là: Không.
Căn cứ Điều 2 Luật Thi hành án dân sự 2025, việc nộp đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm không đương nhiên làm đình chỉ hoặc hoãn thi hành án.
Các bản án, quyết định sau đây sẽ được đưa ra thi hành án ngay sau khi có hiệu lực:
- Bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm;
- Bản án, quyết định phúc thẩm;
- Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm;
- Quyết định của Tòa án nhân dân tối cao được thi hành theo quy định của pháp luật;
- Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam;
- Quyết định tuyên bố phá sản.
- Bản án, quyết định được thi hành ngay mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng được thi hành.
Việc hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành án sẽ chỉ được thực hiện khi có căn cứ theo các Điều 46,47,48 Luật Thi hành án dân sự 2025, chứ không phát sinh tự động từ việc nộp đơn giám đốc thẩm.
2. Phân biệt đơn đề nghị giám đốc thẩm và quyết định kháng nghị
Đơn đề nghị giám đốc thẩm là văn bản thể hiện yêu cầu của cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức có liên quan, đề nghị người có thẩm quyền xem xét bản án đã có hiệu lực pháp luật khi nhận thấy có căn cứ kháng nghị.
Trong khi đó, quyết định kháng nghị giám đốc thẩm là văn bản tố tụng do người có thẩm quyền ban hành khi xác định có căn cứ để xem xét lại bản án theo thủ tục này.
Do đó, việc gửi đơn mới chỉ là bước đề nghị xem xét. Đơn không thay thế quyết định kháng nghị và cũng không đương nhiên làm phát sinh hiệu lực đình chỉ thi hành án.
Ngay cả khi đã có quyết định kháng nghị, việc thi hành án cũng cần được xem xét theo đúng căn cứ và trình tự luật định. Người phải thi hành án không nên mặc nhiên cho rằng cứ có kháng nghị là toàn bộ hoạt động thi hành án sẽ dừng lại.
3. Khi nào việc thi hành án được hoãn hoặc tạm đình chỉ?
Luật Thi hành án dân sự năm 2025 quy định các căn cứ hoãn, tạm đình chỉ và đình chỉ thi hành án tại Điều 46, Điều 47 và Điều 48.
Đối với trường hợp liên quan đến giám đốc thẩm, cần đặc biệt lưu ý hai cơ chế:
Thứ nhất, hoãn thi hành án theo Điều 46. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thể quyết định hoãn khi nhận được yêu cầu của người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Yêu cầu này nhằm tạo khoảng thời gian cần thiết để xem xét kháng nghị, hạn chế nguy cơ phát sinh hậu quả khó khắc phục.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 46, người có thẩm quyền kháng nghị chỉ được yêu cầu hoãn một lần; thời hạn hoãn không quá 03 tháng kể từ ngày ra văn bản yêu cầu. Trường hợp yêu cầu được gửi ít nhất 24 giờ trước thời điểm cưỡng chế đã ấn định, cơ quan thi hành án thực hiện theo quy định tương ứng của điều luật. Nếu yêu cầu được gửi trong thời gian ngắn hơn, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có quyền quyết định hoãn khi xét thấy cần thiết.
Thứ hai, tạm đình chỉ thi hành án theo Điều 47. Việc tạm đình chỉ trong trường hợp có kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm phải căn cứ vào quyết định tạm đình chỉ của người có thẩm quyền theo quy định pháp luật. Khi có căn cứ tạm đình chỉ, cơ quan thi hành án dân sự thực hiện việc thông báo cho các đương sự và xử lý tình trạng thi hành án đã phát sinh.
Như vậy, không thể đồng nhất việc gửi đơn đề nghị giám đốc thẩm với việc có yêu cầu hoãn hoặc quyết định tạm đình chỉ thi hành án.
4. Người phải thi hành án cần làm gì?
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có quyền gửi đơn yêu cầu thi hành án. Theo khoản 4 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự năm 2025, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu hợp lệ, cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định thi hành án.
Ngay khi nhận được quyết định này, người phải thi hành án cần:
- Rà soát căn cứ hoãn: Kiểm tra tài sản có tranh chấp, bản án có nội dung cần giải thích hoặc vụ việc có thuộc trường hợp hoãn theo Điều 46 Luật Thi hành án dân sự năm 2025 hay không.
- Đề nghị kháng nghị: Nếu bản án có sai lầm thuộc căn cứ giám đốc thẩm, tái thẩm, chuẩn bị đơn đề nghị gửi người có thẩm quyền.
- Đề nghị hoãn hoặc tạm đình chỉ: Khi có căn cứ, đề nghị người có thẩm quyền xem xét yêu cầu hoãn hoặc ban hành quyết định tạm đình chỉ thi hành án theo quy định.
- Viết đơn phải trình bày rõ sai phạm pháp luật; phân tích cụ thể điều luật bị áp dụng sai; có tài liệu, chứng cứ kèm theo; lập luận chặt chẽ, không lặp lại nội dung đã tranh luận và bị bác ở cấp dưới. Nếu đơn viết sơ sài, không có căn cứ pháp lý rõ ràng thì gần như chắc chắn sẽ bị bỏ qua do khối lượng hồ sơ rất lớn.
Một số lưu ý về yêu cầu hoãn theo khoản 2 Điều 46 Luật Thi hành án dân sự năm 2025:
- Người có thẩm quyền kháng nghị chỉ được yêu cầu hoãn thi hành án một lần.
- Thời hạn hoãn không quá 03 tháng kể từ ngày ra văn bản yêu cầu.
- Nếu yêu cầu được gửi ít nhất 24 giờ trước thời điểm cưỡng chế đã ấn định, việc hoãn được thực hiện theo quy định.
- Nếu yêu cầu được gửi ít hơn 24 giờ trước thời điểm cưỡng chế, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có quyền quyết định hoãn khi xét thấy cần thiết.
Do đó, người phải thi hành án cần theo dõi sát thời điểm ban hành quyết định thi hành án và thời điểm cưỡng chế để kịp thời thực hiện thủ tục phù hợp. Lưu ý, việc gửi đơn đề nghị giám đốc thẩm không tự động làm dừng thi hành án.
5. Kết luận
Giám đốc thẩm là thủ tục đặc biệt nhằm xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật khi có căn cứ luật định. Tuy nhiên, thủ tục này không làm mất đi hiệu lực thi hành của bản án chỉ vì một bên đã gửi đơn đề nghị. Vì vậy, người phải thi hành án cần phân biệt rõ giữa quyền đề nghị xem xét lại bản án và điều kiện pháp lý để hoãn, tạm đình chỉ thi hành án. Việc chủ động thực hiện đúng thủ tục, đúng thời điểm sẽ góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp và hạn chế những hậu quả khó khắc phục trong quá trình thi hành án.
Nếu Quý khách hàng đang gặp vướng mắc liên quan đến việc đề nghị giám đốc thẩm, hoãn hoặc tạm đình chỉ thi hành án dân sự, vui lòng liên hệ Công ty Luật TNHH TLA để được đội ngũ luật sư tư vấn, rà soát hồ sơ và hỗ trợ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp theo quy định pháp luật.
Liên hệ Luật sư tư vấn:
- Luật TLA là một trong những đơn vị luật sư hàng đầu, với đội ngũ luật sư, cán bộ nhiều kinh nghiệm trong các lĩnh vực hình sự, dân sự, doanh nghiệp, hôn nhân và gia đình,… Chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ, giải đáp mọi thắc mắc về pháp lý của bạn. Nếu bạn còn thắc mắc về nội dung này, hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được giải đáp thắc mắc.
- Luật sư Vũ Thị Phương Thanh, Chủ tịch HĐTV Công ty Luật TNHH TLA, Đoàn Luật sư Hà Nội, email: vtpthanh@tlalaw.vn
- Luật sư Trần Mỹ Lê, Giám đốc Công ty Luật TNHH TLA, Đoàn Luật sư Hà Nội; email: tmle@tlalaw.vn
- Địa chỉ: Tầng 2, 14 Pháo Đài Láng, Phường Láng, Hà Nội.
- Website: https://tlalaw.vn/
- Hotline: 0904267027