
Cơ sở pháp lý
- Luật Thi hành án dân sự 2025 (số 106/2025/QH15) có hiệu lực từ ngày 01/7/2026
- Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (số 92/2015/QH13) có hiệu lực từ ngày 01/7/2026
Trong quá trình tổ chức thi hành án dân sự, có những trường hợp việc thi hành bản án, quyết định không thể tiếp tục thực hiện ngay hoặc không còn căn cứ để tiếp tục thi hành. Khi đó, pháp luật quy định các cơ chế hoãn, tạm đình chỉ và đình chỉ thi hành án để xử lý phù hợp với từng tình huống cụ thể. Tuy nhiên, ba cơ chế này có căn cứ áp dụng, trình tự và hậu quả pháp lý khác nhau. Vậy khi nào được hoãn, tạm đình chỉ hoặc đình chỉ thi hành án? Bài viết dưới đây sẽ làm rõ các trường hợp áp dụng và những vấn đề cần lưu ý theo quy định pháp luật hiện hành.
1. Các trường hợp chấm dứt thi hành án dân sự
Trong quá trình thi hành án dân sự, không phải mọi trường hợp có vướng mắc hoặc phát sinh tranh chấp đều dẫn đến việc chấm dứt hoạt động thi hành án. Tùy từng tình huống, pháp luật quy định ba cơ chế: hoãn, tạm đình chỉ và đình chỉ thi hành án.
Theo Luật Thi hành án dân sự năm 2025, các cơ chế này lần lượt được quy định tại Điều 46, Điều 47 và Điều 48.
Về bản chất, hoãn thi hành án là việc tạm thời chưa tổ chức thi hành khi xuất hiện căn cứ luật định; tạm đình chỉ thi hành án là việc tạm dừng quá trình thi hành trong những trường hợp pháp luật quy định; còn đình chỉ thi hành án là việc chấm dứt thi hành một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ thuộc quyết định thi hành án.
Việc phân biệt ba cơ chế này giúp xác định đúng thủ tục cần thực hiện, tránh tình trạng gửi đơn không đúng căn cứ hoặc nhầm lẫn giữa việc tạm thời dừng thi hành với việc chấm dứt thi hành án.
2. Trường hợp được hoãn thi hành án
Theo Điều 46 Luật Thi hành án dân sự năm 2025, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định hoãn một phần hoặc toàn bộ việc thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày có căn cứ luật định.
Các căn cứ hoãn bao gồm một số trường hợp đáng chú ý như: người phải thi hành nghĩa vụ gắn liền với nhân thân bị bệnh hiểm nghèo; đương sự có thỏa thuận bằng văn bản hoặc người được thi hành án có văn bản đề nghị hoãn; Tòa án đã thụ lý tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất hoặc tranh chấp liên quan đến kết quả đấu giá; có quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.
Đối với trường hợp bản án được đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, cần lưu ý hai căn cứ:
- Đang trong thời hạn cơ quan có thẩm quyền trả lời kiến nghị của cơ quan thi hành án dân sự về việc xem xét lại bản án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.
- Cơ quan thi hành án dân sự nhận được yêu cầu hoãn của người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.
Đặc biệt, đối với yêu cầu hoãn của người có thẩm quyền kháng nghị, khoản 2 Điều 46 quy định việc yêu cầu chỉ được thực hiện một lần và thời hạn hoãn không quá 03 tháng kể từ ngày ra văn bản yêu cầu. Trường hợp yêu cầu được gửi ít nhất 24 giờ trước thời điểm cưỡng chế đã ấn định, cơ quan thi hành án thực hiện theo quy định của điều luật; nếu nhận được yêu cầu muộn hơn, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có quyền quyết định hoãn khi xét thấy cần thiết.
Như vậy, người phải thi hành án không thể tự mình yêu cầu hoãn chỉ bằng cách viện dẫn việc đã gửi đơn đề nghị giám đốc thẩm. Cần xác định cụ thể căn cứ hoãn tương ứng với trường hợp của mình.
3. Trường hợp được tạm đình chỉ thi hành án
Khác với hoãn thi hành án, tạm đình chỉ được áp dụng trong những trường hợp cụ thể theo Điều 47 Luật Thi hành án dân sự năm 2025.
Một số trường hợp đáng chú ý gồm: doanh nghiệp, hợp tác xã bị Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hoặc phục hồi hoạt động kinh doanh; Tòa án yêu cầu tạm đình chỉ thi hành quyết định công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài; hoặc có quyết định tạm đình chỉ của người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.
Trong trường hợp có quyết định tạm đình chỉ liên quan đến kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm, cơ quan thi hành án dân sự phải thực hiện việc thông báo cho đương sự theo thời hạn luật định. Nếu bản án đã được thi hành một phần hoặc toàn bộ, cơ quan thi hành án phải thông báo cho người có thẩm quyền kháng nghị để xử lý theo quy định.
Việc tạm đình chỉ không đồng nghĩa với việc nghĩa vụ thi hành án đã chấm dứt. Khi xuất hiện căn cứ tiếp tục thi hành án, chẳng hạn quyết định rút kháng nghị hoặc quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm giữ nguyên hoặc sửa bản án, cơ quan thi hành án phải thực hiện thủ tục tiếp tục thi hành theo thời hạn luật định.
4. Khi nào phải đình chỉ thi hành án?
Điều 48 Luật Thi hành án dân sự năm 2025 quy định các trường hợp Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định đình chỉ một phần hoặc toàn bộ việc thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày có căn cứ.
Các trường hợp này chủ yếu liên quan đến việc quyền, nghĩa vụ không thể tiếp tục được chuyển giao hoặc thực hiện; người được thi hành án hoặc người phải thi hành án chết trong những điều kiện luật định; nghĩa vụ đã được miễn, giảm; có bản án, quyết định hủy bản án đang được thi hành; hoặc các trường hợp khác được điều luật quy định.
Đối với trường hợp các bên thỏa thuận hoặc người được thi hành án có văn bản yêu cầu đình chỉ, cần lưu ý các ngoại lệ nhằm bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền lợi của người thứ ba và bảo đảm nghĩa vụ về phí thi hành án. Khi việc đình chỉ được thực hiện hợp pháp, phần nghĩa vụ đã đình chỉ không được yêu cầu thi hành lại theo quy định.
Có thể thấy, đình chỉ là cơ chế có hậu quả pháp lý khác căn bản so với hoãn và tạm đình chỉ. Vì vậy, việc đề nghị đình chỉ cần được cân nhắc kỹ, đặc biệt khi liên quan đến quyền lợi tài sản của các bên.
5. Người phải thi hành án cần lưu ý gì về thời điểm và thủ tục?
Khi bản án có hiệu lực và phát sinh yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án cần chủ động theo dõi các thông báo, quyết định của cơ quan thi hành án dân sự. Nếu có căn cứ hoãn hoặc tạm đình chỉ, cần chuẩn bị văn bản đề nghị kèm tài liệu chứng minh và gửi đến đúng cơ quan, người có thẩm quyền.
Đối với trường hợp đề nghị xem xét bản án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, người làm đơn cần phân tích rõ sai lầm được cho là có trong bản án, xác định căn cứ pháp luật và cung cấp tài liệu liên quan. Đồng thời, cần phân biệt việc gửi đơn đề nghị kháng nghị với việc đề nghị người có thẩm quyền thực hiện yêu cầu hoãn hoặc ban hành quyết định tạm đình chỉ thi hành án.
Một vấn đề khác cần lưu ý là trường hợp cơ quan thi hành án dân sự kiến nghị Tòa án xem xét lại bản án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Theo Điều 487 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án có thẩm quyền phải trả lời trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày nhận được kiến nghị; trường hợp vụ việc phức tạp thì thời hạn trả lời không quá 04 tháng.
Việc theo dõi thời hạn trả lời có ý nghĩa quan trọng bởi căn cứ hoãn gắn với thời gian chờ cơ quan có thẩm quyền trả lời kiến nghị không tồn tại vô thời hạn. Khi căn cứ hoãn không còn, cơ quan thi hành án phải xử lý việc tiếp tục thi hành theo quy định pháp luật.
6. Kết luận
Hoãn, tạm đình chỉ và đình chỉ thi hành án là ba cơ chế pháp lý khác nhau, được áp dụng tùy thuộc vào căn cứ và tình trạng thực tế của việc thi hành án. Trong đó, hoãn và tạm đình chỉ chỉ làm gián đoạn việc tổ chức thi hành trong những trường hợp luật định; còn đình chỉ dẫn đến chấm dứt việc thi hành một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ theo quyết định thi hành án.
Do đó, khi phát sinh vướng mắc, các bên cần xác định đúng căn cứ, thẩm quyền và thủ tục tương ứng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Nếu Quý khách hàng đang gặp khó khăn trong quá trình thi hành án dân sự hoặc cần tư vấn về thủ tục hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành án, vui lòng liên hệ Công ty Luật TNHH TLA để được đội ngũ luật sư hỗ trợ, rà soát hồ sơ và tư vấn hướng xử lý phù hợp.
Liên hệ Luật sư tư vấn:
- Luật TLA là một trong những đơn vị luật sư hàng đầu, với đội ngũ luật sư, cán bộ nhiều kinh nghiệm trong các lĩnh vực hình sự, dân sự, doanh nghiệp, hôn nhân và gia đình,… Chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ, giải đáp mọi thắc mắc về pháp lý của bạn. Nếu bạn còn thắc mắc về nội dung này, hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được giải đáp thắc mắc.
- Luật sư Vũ Thị Phương Thanh, Chủ tịch HĐTV Công ty Luật TNHH TLA, Đoàn Luật sư Hà Nội, email: vtpthanh@tlalaw.vn
- Luật sư Trần Mỹ Lê, Giám đốc Công ty Luật TNHH TLA, Đoàn Luật sư Hà Nội; email: tmle@tlalaw.vn
- Địa chỉ: Tầng 2, 14 Pháo Đài Láng, Phường Láng, Hà Nội.
- Website: https://tlalaw.vn/
- Hotline: 0904267027