Việc chấm dứt hợp đồng trước thời hạn có luôn phát sinh trách nhiệm bồi thường?

I. MỞ ĐẦU

Trong thực tiễn giao kết và thực hiện hợp đồng dân sự, thương mại, việc chấm dứt hợp đồng trước thời hạn xảy ra khá phổ biến, đặc biệt trong bối cảnh thị trường biến động, điều kiện thực hiện hợp đồng thay đổi hoặc một bên không còn khả năng, nhu cầu tiếp tục thực hiện nghĩa vụ. Một vấn đề pháp lý thường xuyên phát sinh tranh chấp là liệu việc chấm dứt hợp đồng trước thời hạn có đương nhiên làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại hay không. Trên thực tế, không ít trường hợp các bên đồng nhất việc chấm dứt hợp đồng trước thời hạn với hành vi vi phạm hợp đồng, từ đó cho rằng bên chấm dứt phải chịu trách nhiệm bồi thường. Tuy nhiên, pháp luật hợp đồng Việt Nam lại tiếp cận vấn đề này theo hướng linh hoạt hơn, phân biệt rõ giữa chấm dứt hợp đồng hợp pháp và chấm dứt hợp đồng do vi phạm nghĩa vụ. Việc nghiên cứu vấn đề này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật và hạn chế tranh chấp phát sinh.

II. KHÁI QUÁT VỀ CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG TRƯỚC THỜI HẠN

1. Khái niệm chấm dứt hợp đồng trước thời hạn

Chấm dứt hợp đồng trước thời hạn được hiểu là việc hợp đồng không tiếp tục được thực hiện và chấm dứt hiệu lực trước thời điểm mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng. Việc chấm dứt này có thể xuất phát từ thỏa thuận của các bên, từ quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của một bên hoặc từ các căn cứ pháp luật quy định.

Theo Điều 422 Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng chấm dứt trong nhiều trường hợp khác nhau như: hợp đồng đã được hoàn thành; theo thỏa thuận của các bên; cá nhân giao kết hợp đồng chết hoặc pháp nhân chấm dứt tồn tại mà hợp đồng phải do chính chủ thể đó thực hiện; hợp đồng bị hủy bỏ hoặc bị đơn phương chấm dứt thực hiện theo quy định của pháp luật. Trong số đó, nhiều trường hợp dẫn đến việc hợp đồng chấm dứt trước thời hạn nhưng không phải mọi trường hợp đều gắn liền với trách nhiệm bồi thường.

2. Phân biệt chấm dứt hợp đồng và vi phạm hợp đồng

Vi phạm hợp đồng là hành vi không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ nghĩa vụ theo hợp đồng, làm phát sinh trách nhiệm dân sự theo Điều 351 Bộ luật Dân sự năm 2015. Trong khi đó, chấm dứt hợp đồng là một hậu quả pháp lý làm cho hợp đồng không còn hiệu lực đối với các nghĩa vụ chưa thực hiện. Do đó, không phải mọi trường hợp chấm dứt hợp đồng đều được coi là hành vi vi phạm hợp đồng và kéo theo trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

III. CÁC TRƯỜNG HỢP CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG TRƯỚC THỜI HẠN KHÔNG PHÁT SINH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG

1. Chấm dứt hợp đồng theo thỏa thuận của các bên

Theo khoản 1 Điều 422 Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng chấm dứt theo thỏa thuận của các bên. Trong trường hợp này, việc chấm dứt hợp đồng là kết quả của sự thống nhất ý chí, không xuất phát từ lỗi của bất kỳ bên nào. Do đó, về nguyên tắc, việc chấm dứt hợp đồng theo thỏa thuận không làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ khi các bên có thỏa thuận khác về nghĩa vụ bồi thường hoặc xử lý hậu quả khi chấm dứt hợp đồng.

2. Đơn phương chấm dứt hợp đồng đúng pháp luật

Bộ luật Dân sự năm 2015 cho phép một bên được quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng trong những trường hợp nhất định. Cụ thể, Điều 428 BLDS 2015 quy định một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng khi bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng hoặc trong các trường hợp khác do luật hoặc hợp đồng quy định. Khi việc đơn phương chấm dứt hợp đồng được thực hiện đúng căn cứ pháp luật và đúng trình tự, bên đơn phương chấm dứt không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, ngược lại còn có quyền yêu cầu bên vi phạm bồi thường nếu có thiệt hại phát sinh.

3. Chấm dứt hợp đồng do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn cảnh thay đổi cơ bản

Trong một số trường hợp, hợp đồng chấm dứt trước thời hạn do sự kiện bất khả kháng theo khoản 1 Điều 156 hoặc do hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015. Khi việc chấm dứt hợp đồng xuất phát từ những yếu tố khách quan, ngoài khả năng kiểm soát của các bên và không do lỗi của bên nào, trách nhiệm bồi thường thiệt hại thường không được đặt ra, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định đặc biệt.

IV. CÁC TRƯỜNG HỢP CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG TRƯỚC THỜI HẠN CÓ PHÁT SINH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG

1. Đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật

Theo khoản 5 Điều 428 Bộ luật Dân sự năm 2015, bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng trái pháp luật thì phải bồi thường thiệt hại cho bên kia. Đây là trường hợp phổ biến nhất làm phát sinh trách nhiệm bồi thường khi hợp đồng chấm dứt trước thời hạn. Việc chấm dứt được coi là trái pháp luật khi không có căn cứ theo luật hoặc hợp đồng, hoặc không tuân thủ nghĩa vụ thông báo, gây thiệt hại cho bên còn lại.

2. Chấm dứt hợp đồng do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng

Trong trường hợp một bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng nghiêm trọng dẫn đến việc hợp đồng bị chấm dứt, bên vi phạm phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 351 và Điều 360 Bộ luật Dân sự năm 2015. Trách nhiệm bồi thường trong trường hợp này không xuất phát từ hành vi chấm dứt hợp đồng, mà xuất phát từ chính hành vi vi phạm nghĩa vụ trước đó.

V. CÁCH TIẾP CẬN CỦA PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI

Luật Thương mại năm 2005 cũng ghi nhận quyền chấm dứt hợp đồng trước thời hạn trong những trường hợp nhất định, đồng thời gắn trách nhiệm bồi thường với yếu tố lỗi và hành vi vi phạm. Điều 312 và Điều 313 Luật Thương mại năm 2005 quy định về tạm ngừng, đình chỉ và hủy bỏ hợp đồng thương mại, theo đó chỉ khi việc chấm dứt hoặc hủy bỏ hợp đồng xuất phát từ hành vi vi phạm của một bên thì mới làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Cách tiếp cận này cho thấy pháp luật thương mại không đồng nhất việc chấm dứt hợp đồng với trách nhiệm bồi thường, mà xem xét bản chất pháp lý và nguyên nhân dẫn đến việc chấm dứt.

VI. KẾT LUẬN

Từ các phân tích trên có thể khẳng định rằng việc chấm dứt hợp đồng trước thời hạn không phải lúc nào cũng làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường chỉ đặt ra khi việc chấm dứt hợp đồng xuất phát từ hành vi vi phạm nghĩa vụ hoặc từ việc đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật. Trong các trường hợp chấm dứt hợp đồng theo thỏa thuận, do sự kiện bất khả kháng, do hoàn cảnh thay đổi cơ bản hoặc do thực hiện đúng quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại không đương nhiên phát sinh.

Việc nhận diện đúng căn cứ chấm dứt hợp đồng và phân biệt rõ giữa chấm dứt hợp đồng hợp pháp với vi phạm hợp đồng có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm áp dụng pháp luật thống nhất, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, đồng thời góp phần hạn chế tranh chấp trong thực tiễn giao kết và thực hiện hợp đồng dân sự – thương mại.

Liên hệ Luật sư tư vấn:

Liên hệ Luật sư tư vấn: Luật TLA là một trong những đơn vị luật sư hàng đầu, với đội ngũ luật sư, cán bộ nhiều kinh nghiệm trong các lĩnh vực hình sự, dân sự, doanh nghiệp, hôn nhân và gia đình,… Chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ, giải đáp mọi thắc mắc về pháp lý của bạn. Nếu bạn còn thắc mắc về nội dung này, hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được giải đáp thắc mắc.

1. Luật sư Vũ Thị Phương Thanh, Chủ tịch HĐTV Công ty Luật TNHH TLA, Đoàn Luật sư Hà Nội, 
email: vtpthanh@tlalaw.vn;
2. Luật sư Trần Mỹ Lê, Giám đốc Công ty Luật TNHH TLA, Đoàn Luật sư Hà Nội; 
email: tmle@tlalaw.vn

Địa chỉ: Tầng 7, số 06 Dương Đình Nghệ, Yên Hòa, Hà Nội
Website: https://tlalaw.vn/
Hotline: 0906246464

Khương Ngọc Lan

Bài liên quan