BÌNH LUẬN BẢN ÁN SỐ 28/2020/DS-ST NGÀY 31/8/2020 CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH HẬU GIANG VỀ VỤ VIỆC TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG

  1. Tóm tắt vụ án

Ngày 19/01/2020, khi anh Võ Anh K điều khiển mô tô biển số 95H1- 420.47 lưu thông trên tỉnh lộ 925, khi đi đến đoạn cầu Thông Thuyền thì bị xe mô tô biểnS ố 95H1-449.97 do anh Trần Đại P điều khiển đi ngược chiều va chạm gây tai nạn.

Hậu quả anh K bị tổn thương sức khỏe và hư hỏng xe mô tô. Vào ngày 12/5/2020 anh K đã khởi kiện yêu cầu anh P bồi thường thiệt hại gồm: Tiền thuốc theo toa vé là 9.930.000 đồng; tiền chi phí sinh hoạt, ăn uống, chi phí tái khám là 4.180.000 đồng; tiền chi phí điều trị về sau 13.000.000 đồng; tiền công lao động do anh K phải nghỉ để điều trị bệnh 2 tháng: 60 ngày x 350.000 đồng/ngày = 21.000.000 đồng; tiền công lao động 02 người chăm bệnh (ông D và bà N) 200.000 đồng/ngày x 10 ngày = 4.000.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần 25.000.000 đồng; tiền sửa xe là 5.198.000 đồng. Tổng số tiền yêu cầu anh P bồi thường là 82.308.000 đồng. Do khi nằm ở bệnh viện điều trị anh P đã bồi thường 6.000.000 đồng nên yêu cầu anh P phải bồi thường 76.308.000 đồng.

Tại phiên tòa, đại diện cho anh K là ông D rút phần yêu cầu bồi thường chi phí điều trị về sau 13.000.000 đồng, đồng thời yêu cầu bồi thường ngày mất thu nhập của anh K lên 90 ngày. Trong quá trình xét xử, anh P thống nhất bồi thường cho anh K chi phí thuốc men theo toa vé hợp lý nhưng không đồng ý bồi thường các khoản đã được bảo hiểm y tế thanh toán. Bên cạnh đó, các khoản tiền khác anh P không đồng ý bồi thường vì cho rằng lỗi tai nạn ngoài ý muốn vì bản thân anh K cũng có lỗi uống rượu bia nên xác định lỗi từ hai phía.

  1. Phán quyết của Toà án

Sau khi nghiên cứu các bằng chứng và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đưa ra nhận định về vụ việc và quyết định: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Võ Anh K: buộc anh P phải bồi thường cho anh K tổng số tiền thiệt hại về sức khỏe và tài sản là 27.911.686 đồng; chưa chấp nhận yêu cầu bồi thường tiền tổn thất tinh thần 25.000.000 đồng và đình chỉ phần yêu cầu bồi thường chi phí chữa bệnh phát sinh sau này là 13.000.000 đồng.

  1. Một số điểm chưa hợp lý trong quyết định của Toà án

Thứ nhất, tôi cho rằng việc Tòa án bác bỏ về khoản yêu cầu bồi thường 25 triệu đồng của anh K là không phù hợp. 

Theo quy định tại khoản 3 Điều 361 Bộ luật dân sự năm 2015 (sau đây gọi là BLDS năm 2015): “Thiệt hại về tinh thần là tổn thất về tinh thần do bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các lợi ích nhân thân khác của một chủ thể”. Áp dụng vào vụ việc trên, sức khỏe của anh K đã bị xâm phạm (tỷ lệ thương tích của anh K theo kết luận giám định là 40%) gây ra đau đớn trong quá trình khám chữa, lo lắng, bất an,…cũng như ảnh hưởng đến công việc của anh và cả người nhà đi chăm sóc. Do vậy thiệt hại về tinh thần của anh K phát sinh là có căn cứ. Trong khoản 2 Điều 590 BLDS 2015: “Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải BTTH theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu”. Có thể thấy, từ “và” có ý nghĩa bắt buộc, nghĩa là một khi đã có thiệt hại về tinh thần thì bên gây ra thiệt hại chắc chắn sẽ phải bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất cho người bị thiệt hại. Trong bản án, anh K có yêu cầu anh P bồi thường khoản tiền tổn thất về tinh thần với số tiền là 25.000.000 đồng. Tuy nhiên, TAND huyện Châu Thành lại “Chưa chấp nhận yêu cầu bồi thường này”. Bởi toà nhận định thương tích, tổn thương của nguyên đơn đã phục hồi, không để lại dấu vết và nguyên đơn đã làm việc bình thường. 

Điểm mấu chốt ở đây tôi cho rằng, dù kết quả giám định kết luận tổn thương đã phục hồi nhưng trong thời gian điều trị anh K chắc chắn đã bị ảnh hưởng không ít tới tinh thần. Bên cạnh đó, anh K được xác định nghề nghiệp là thợ hàn điện nên sự ảnh hưởng đối với nghề nghiệp của anh sau này là không thể tránh khỏi. Tòa án xác chỉ xác định tổn thất tinh thần của anh K sau khi anh đã phục hồi nhưng lại không tính đến khoảng thời gian anh đang điều trị. Thêm nữa, Tòa án cho rằng “ hạn chế vận nhãn ngoài mắt trái chưa xác định có phục hồi hay không nên không có cơ sở bắt bị đơn phải bồi thường”, nghĩa là nếu mắt trái của nguyên đơn có thể phục hồi bình thường thì bị đơn không cần phải bồi thường nữa? Điều này là không hợp lý bởi để bình phục cần có cả quá trình chứ không phải ngày một ngày hai. Người thân của anh cũng lo lắng, chăm nom cho anh K trong thời gian điều trị. 

Thứ hai, về việc xác định khoản chi phí về thuốc bổ, truyền đạm mà nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải bồi thường. Điểm 1.1 mục 1 phần II Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP xác định tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm phải theo chỉ định của bác sỹ. Tòa Án nhận định: “nguyên đơn không cung cấp được các chỉ định của bác sĩ cũng như các giấy tờ chi phí bồi dưỡng cho bệnh nhân” nhưng Tòa vẫn chấp nhận yêu cầu bồi thường của nguyên đơn là 100.000 đồng x 11 ngày = 1.100.000 đồng. Vậy cơ sở để xác định mức bồi thường này là không có căn cứ và hoàn toàn dựa vào ý chí chủ quan của nguyên đơn cũng như Tòa án. Có thể xảy ra trường hợp nguyên đơn tự ý phát sinh thêm các chi phí này.

Thứ ba,  tôi cho rằng mức thu nhập 320.000 đồng/ngày của anh K mà Tòa tuyên bố là chênh lệch so với mức thu nhập trung bình thực tế. Trước thời điểm xảy ra tai nạn, anh K mới vừa đi làm hàn điện chưa đầy 01 tháng tại Nhà máy giấy Lee&Man, theo thời vụ. Ngoài ra, anh K cũng không có bất cứ giấy tờ chứng minh cho mức thu nhập của mình, do đó có thể xác định anh K có mức thu nhập không ổn định và không thể xác định được. Áp dụng điểm 1.2 mục 1 phần II Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP về thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại: “Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm, người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng không ổn định và không thể xác định được, thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại….”. Theo tôi tìm hiểu, mức lương trung bình của thợ hàn điện mới gia nhập thị trường vào khoảng thời gian đó  sẽ dao động trong khoảng từ 5.000.000 – 7.000.000 đồng/tháng. So sánh với mức lương mà Bản án nêu là 320.000 đồng/ngày tương đương 9.600.000 đồng/tháng thì nhỏ hơn từ 1,92 đến 1,3 lần. Do vậy,  tôi thấy nhận định của tòa yêu cầu anh P bồi thường số tiền thu nhập tổn thất của anh K bằng 19.200.000 đồng là thiếu căn cứ và không hợp lý.

Thứ tư, chưa có sự xác định chi phí tàu xe trong quá trình anh K đi tái khám và khám mắt là không phù hợp. Căn cứ theo Nghị quyết số 03/2006/NQ – HĐTP về BTTH ngoài hợp đồng quy định về nghĩa vụ chứng minh: “Người bị thiệt hại yêu cầu BTTH phải nêu rõ từng khoản thiệt hại thực tế đã xảy ra, mức yêu cầu bồi thường và phải có chứng từ hoặc giấy biên nhận hợp lệ về các khoản chi phí hợp lý, về thu nhập của người bị thiệt hại.” Vì thế, phía nguyên đơn có nghĩa vụ phải đưa ra các chứng từ hoặc giấy biên nhận hợp lệ để chứng minh khoản chi của mình là chi phí hợp lý, trong trường hợp này, phía nguyên đơn có nghĩa vụ đưa ra là các vé xe, hóa đơn ăn uống, chi tiêu phát sinh trong thời gian đi tái khám bệnh. Anh K cần và có khả năng chứng minh được chi phí tàu xe thông qua hóa đơn thu tiền, vé xe mà đơn vị vận chuyển cung cấp khi thanh toán. Đối với trường hợp di chuyển bằng taxi, xe khách không có hóa đơn thanh toán thì theo khoản 2 Điều 6 Nghị định 10/2020/NĐ-CP, có thể tính trên xe phải gắn đồng hồ tính tiền và phiếu thu tiền phải có các thông tin tối thiểu, trong đó có cự ly chuyến đi (km) và tổng số tiền hành khách phải trả. Thế nhưng trong bản án, phía nguyên đơn không đưa ra các loại căn cứ theo yêu cầu mà chỉ “cho rằng”, vậy ở đây căn cứ phía nguyên đơn đưa ra có thể hiểu là không có sự chính xác tuyệt đối mà chỉ là ước lượng ở đây là chưa hợp lý. 

  1. Một số bình luận về việc giải quyết vụ án 

Thứ nhất, cần đưa lại hướng giải quyết hợp lý hơn về việc bồi thường thiệt hại tinh thần cho nguyên đơn K. 

Từ 19/01/2020 đến khi chấm dứt điều trị hạn chế vận nhãn của anh K là ít nhất 6 tháng theo như đã đề cập ở trên kể từ ngày 02/03/2020, tức ngày 02/09/2020. Do đó anh P phải bồi thường tổn thất tinh thần cho anh K trong ít nhất là 8 tháng kể từ tháng 1 đến tháng 9. Trong trường hợp anh P và anh K không thể tự thỏa thuận được về số tiền bồi thường tổn thất tinh thần thì khoản tiền này sẽ được bồi thường theo quy định tại khoản 2 Điều 592 BLDS 2015, khi đó ta sẽ phải xét được mức lương cơ sở được áp dụng trong trường hợp này. Tuy Nghị quyết số 86/2019/QH14 có quy định tăng mức lương cơ sở từ ngày 01/07/2020 lên mức là 1.600.000 đồng/tháng nhưng theo điểm c Khoản 7 Điều 1 Nghị quyết số 122/2020/QH14 của Quốc hội và Kết luận 77-KL/TW của Bộ Chính trị thì trước mắt chưa triển khai điều chỉnh tăng mức lương cơ sở từ ngày 1/7/2020. Bởi vậy nên mức lương cơ sở được áp dụng để bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn K trong trường hợp này vẫn theo quy định tại khoản 8 Điều 4 Nghị quyết số 70/2018/QH14 là 1.490.000 đồng/tháng. Như vậy, trong trường hợp anh P và anh K không thể tự thỏa thuận được về số tiền bồi thường tổn thất tinh thần thì khoản tiền này sẽ được bồi thường theo quy định tại khoản 2 Điều 592 BLDS 2015 và số tiền bồi thường tổn thất tinh thần cho anh K sẽ là 1.490.000 x 8 tháng =  11.920.000 đồng.

Thứ hai, cần xem xét lại việc xác định khoản chi phí về thuốc bổ, truyền đạm mà nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải bồi thường. 

Theo mục 5 phần I Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP: “Người bị thiệt hại yêu cầu BTTH phải nêu rõ từng khoản thiệt hại thực tế đã xảy ra, mức yêu cầu bồi thường và phải có chứng từ hoặc giấy biên nhận hợp lệ về các khoản chi phí hợp lý, về thu nhập của người bị thiệt hại”, và mục 1 phần II thuộc Nghị quyết này cũng quy định chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng cho nguyên đơn K cần theo chỉ định của bác sĩ tuy nhiên như Tòa án nhận định: “nguyên đơn không cung cấp được các chỉ định của bác sĩ cũng như các giấy tờ chi phí bồi dưỡng cho bệnh nhân” nhưng Tòa vẫn chấp nhận yêu cầu bồi thường của nguyên đơn là 100.000 đồng x 11 ngày = 1.100.000 đồng. Quyết định này thiếu căn cứ và theo quan điểm của tôi  thì Tòa án nên không chấp nhận khoản bồi thường này của nguyên đơn. 

Thứ ba, mức thu nhập 320.000 đồng/ngày của anh K cũng cần sửa đổi phù hợp hơn. 

Tại thời điểm tai nạn xảy ra thì thu nhập trung bình của công nhân công ty giấy Lee & Man Hậu Giang – nơi anh K làm hiện dao động ở mức 5.000.000 – 7.000.000 đồng/tháng, tức dao động từ 167.000 đồng – 233.000 đồng/ ngày. Hơn nữa, anh K là nhân viên thời vụ mới đi làm chưa được 1 tháng, tức là không hề có hợp đồng lao động do đó thu nhập của anh K tính đến hiện tại được cho là không ổn định nên mức thu nhập của anh sẽ được áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại theo điểm 1.2 mục 1 phần II Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP, vì vậy Tòa án nên đưa ra mức thu nhập cho anh K là 230.000đồng/ngày thay vì con số 320.000 đồng/ngày ban đầu. Do vậy, số tiền mất thu nhập của nguyên đơn K chỉ là 230.000đ x 60 ngày = 13.800.000đ. 

Thứ tư, về số tiền Tòa chấp nhận với chi phí tàu xe của nguyên đơn. 

Việc bồi thường chi phí tàu xe nhằm phục vụ mục đích khám chữa bệnh của nguyên đơn là vô cùng hợp lí. Thế nhưng, số tiền chi tiêu đó không hề có bất kì chứng từ hay giấy biên nhân hợp lệ về số tiền chi tiêu tàu xe. Bởi vậy, dựa vào Phần I Điều 5 Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP, Tòa phải yêu cầu phía nguyên đơn xác minh và có biên lai hóa đơn, phiếu thu tiền, vé tàu xe cụ thể.

————————————————

Liên hệ Luật sư tư vấn:

Luật TLA là một trong những đơn vị luật sư hàng đầu, với đội ngũ luật sư, cán bộ nhiều kinh nghiệm trong các lĩnh vực hình sự, dân sự, doanh nghiệp, hôn nhân và gia đình,… Chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ, giải đáp mọi thắc mắc về pháp lý của bạn. Nếu bạn còn thắc mắc về nội dung này, hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được giải đáp thắc mắc.

1. Luật sư Vũ Thị Phương Thanh, Chủ tịch HĐTV Công ty Luật TNHH TLA, Đoàn Luật sư Hà Nội, 

email: vtpthanh@tlalaw.vn;

2. Luật sư Trần Mỹ Lê, Giám đốc Công ty Luật TNHH TLA, Đoàn Luật sư Hà Nội; 

email: tmle@tlalaw.vn

Công ty Luật TNHH TLA

Địa chỉ: Tầng 7, số 6 Dương Đình Nghệ, Yên Hòa, Hà Nội

Website: https://tlalaw.com

Đinh Phương Thảo

Bài liên quan