Điểm Mới Về Góp Vốn Bằng Công Nghệ Và Thương Mại Hóa Công Nghệ Theo Luật Chuyển Giao Công Nghệ Sửa Đổi 2025

I. Thúc Đẩy Hoạt Động Góp Vốn Bằng Công Nghệ

Luật 115/2025/QH15 đã sửa đổi đáng kể Điều 8 của Luật 07/2017/QH14 Luật chuyển giao công nghệ năm 2017 (“Luật 07/2017/QH14”) về góp vốn bằng công nghệ, mở rộng phạm vi và đưa ra các biện pháp khuyến khích cụ thể.

Dưới đây là bảng so sánh chi tiết:

Quy định cũ (Trước 01/04/2026)Quy định mới (Từ 01/04/2026)Ý nghĩa thay đổi
Tên Điều: Điều 8. Góp vốn bằng công nghệ vào dự án đầu tư của Luật 07/2017/QH14Tên Điều: Điều 8. Góp vốn bằng công nghệ của Luật 07/2017/QH14 (được sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 6 Điều 1 của Luật 115/2025/QH15)Việc bỏ cụm từ “vào dự án đầu tư” trong tên Điều cho thấy pháp luật đã mở rộng đối tượng có thể nhận góp vốn bằng công nghệ, không chỉ giới hạn ở các dự án đầu tư.
Phạm vi góp vốn: Khoản 1 Điều 8 của Luật 07/2017/QH14 quy định tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu hợp pháp công nghệ được góp vốn bằng công nghệ vào dự án đầu tư.Phạm vi góp vốn: Khoản 1 Điều 8 của Luật 07/2017/QH14 (sửa đổi) quy định tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu hợp pháp công nghệ được góp vốn bằng công nghệ vào dự án đầu tư hoặc doanh nghiệp, được thương mại hoá công nghệ theo quy định cuả pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, pháp luật về sở hữu trí tuệ, pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công, pháp luật về doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan.Mở rộng đáng kể cơ hội cho việc sử dụng công nghệ như một loại tài sản để góp vốn. Doanh nghiệp có thể trực tiếp nhận vốn góp bằng công nghệ, thay vì chỉ giới hạn ở các dự án đầu tư. Đồng thời, việc bổ sung các căn cứ pháp luật liên quan như sở hữu trí tuệ, doanh nghiệp, quản lý tài sản công sẽ giúp hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động này, tăng cường tính minh bạch và bảo vệ quyền lợi các bên.
Điều kiện góp vốn có vốn nhà nước: Khoản 2 Điều 8 của Luật 07/2017/QH14 yêu cầu công nghệ phải được thẩm định giá theo quy định pháp luật về giá.Điều kiện góp vốn có vốn nhà nước: Khoản 2 Điều 8 của Luật 07/2017/QH14 (sửa đổi) yêu cầu công nghệ phải được thẩm định giá theo quy định cuả pháp luật về giá và xác nhận quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp trước khi thực hiện góp vốn.Việc bổ sung yêu cầu xác nhận quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp là một bước quan trọng để tăng cường tính chặt chẽ, minh bạch và đảm bảo quyền lợi của Nhà nước khi góp vốn bằng công nghệ vào các dự án có sử dụng vốn nhà nước. Điều này giúp ngăn ngừa rủi ro pháp lý và đảm bảo công nghệ góp vốn có nguồn gốc rõ ràng.
Chính sách khuyến khích: Không có quy định cụ thể về việc Nhà nước khuyến khích góp vốn bằng công nghệ.Chính sách khuyến khích: Khoản 3 Điều 8 của Luật 07/2017/QH14 (sửa đổi) bổ sung quy định Nhà nước khuyến khích góp vốn bằng công nghệ tạo ra từ hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp Việt Nam thông qua các biện pháp hỗ trợ thẩm định giá, xác lập quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng công nghệ hợp pháp.Quy định mới thể hiện sự quan tâm và định hướng của Nhà nước trong việc thúc đẩy phát triển và ứng dụng công nghệ trong nước. Việc hỗ trợ thẩm định giá và xác lập quyền sở hữu/sử dụng hợp pháp sẽ giúp các tổ chức, cá nhân Việt Nam tự tin hơn khi sử dụng công nghệ để góp vốn, giảm thiểu chi phí và rủi ro ban đầu.

II. Tăng Cường Thương Mại Hóa Kết Quả Nghiên Cứu Khoa Học, Phát Triển Công Nghệ Và Đổi Mới Sáng Tạo

Mặc dù định nghĩa về “Thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo” không thay đổi về mặt câu chữ (Điểm c Khoản 1 Điều 1 của Luật 115/2025/QH15 sửa đổi Khoản 11 Điều 2 của Luật 07/2017/QH14 vẫn giữ nguyên như Khoản 11 Điều 2 của Luật 07/2017/QH14 cũ), nhưng Luật 115/2025/QH15 và các văn bản hướng dẫn đã bổ sung nhiều chính sách và cơ chế cụ thể để thúc đẩy hoạt động này một cách mạnh mẽ hơn:

1. Phát triển Nguồn Cung, Nguồn Cầu Thị trường Khoa học và Công nghệ:

Luật 115/2025/QH15 sửa đổi Khoản 5 Điều 42 của Luật 07/2017/QH14, nhấn mạnh việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực hấp thụ, làm chủ công nghệ của doanh nghiệp; thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo; liên kết, hợp tác trao đổi nhân lực khoa học và công nghệ giữa cơ sở nghiên cứu, cơ sở đào tạo với cơ sở sản xuất, kinh doanh. Điều này cho thấy thương mại hóa là một phần không thể thiếu trong chiến lược phát triển thị trường khoa học và công nghệ.

2. Cụ thể hóa Chính sách Đào tạo và Hỗ trợ:

Nghị định số 101/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để hướng dẫn thi hành Luật Chuyển giao công nghệ (“Nghị định 101/2026/NĐ-CP”), có hiệu lực từ ngày 01 tháng 4 năm 2026, đã cụ thể hóa các hoạt động hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực hấp thụ, làm chủ công nghệ cho doanh nghiệp. Điều 45 của Nghị định 101/2026/NĐ-CP quy định các nội dung đào tạo như quản lý công nghệ, quản trị công nghệ, tìm kiếm, đàm phán chuyển giao, kỹ năng vận hành, cải tiến công nghệ, giải mã công nghệ, và bồi dưỡng chuyên sâu về thiết kế, phát triển sản phẩm. Các hình thức hỗ trợ bao gồm điều tra, khảo sát nhu cầu, thiết kế chương trình, xây dựng tài liệu và đào tạo giảng viên.

3. Khai thác và Sử dụng Kết quả trên Nền tảng Số:

Nghị định 101/2026/NĐ-CP tại Điều 43 quy định Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, cá nhân, nhóm cá nhân khởi nghiệp sáng tạo, trung tâm đổi mới sáng tạo, cơ sở ươm tạo công nghệ khai thác, sử dụng kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và ý tưởng công nghệ trên Nền tảng số quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia. Điều này giúp tăng cường khả năng tiếp cận và ứng dụng các kết quả nghiên cứu, thúc đẩy thương mại hóa.

Những thay đổi này, có hiệu lực đồng bộ từ ngày 01 tháng 4 năm 2026, thể hiện rõ cam kết của Nhà nước trong việc tạo môi trường pháp lý thuận lợi hơn, khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia mạnh mẽ vào hoạt động góp vốn và thương mại hóa công nghệ, góp phần nâng cao năng lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia.

Liên hệ Luật sư tư vấn: Luật TLA là một trong những đơn vị luật sư hàng đầu, với đội ngũ luật sư, cán bộ nhiều kinh nghiệm trong các lĩnh vực hình sự, dân sự, doanh nghiệp, hôn nhân và gia đình,… Chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ, giải đáp mọi thắc mắc về pháp lý của bạn. Nếu bạn còn thắc mắc về nội dung này, hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được giải đáp thắc mắc.

1. Luật sư Vũ Thị Phương Thanh, Chủ tịch HĐTV Công ty Luật TNHH TLA, Đoàn Luật sư Hà Nội, 
email: vtpthanh@tlalaw.vn;
2. Luật sư Trần Mỹ Lê, Giám đốc Công ty Luật TNHH TLA, Đoàn Luật sư Hà Nội; 
email: tmle@tlalaw.vn

Địa chỉ: Tầng 7, số 06 Dương Đình Nghệ, Yên Hòa, Hà Nội
Website: https://tlalaw.vn/
Hotline: 0906246464

Nguyễn Thùy Dương

Bài liên quan