BÌNH LUẬN BẢN ÁN SƠ THẨM SỐ 04/2017/HSST VỀ TỘI “VÔ Ý LÀM CHẾT NGƯỜI”

Bản án số 04/2017/HSST ngày 23/02/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự liên quan đến bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Vô ý làm chết người”. Dưới đây là tóm tắt chi tiết các diễn biến chính của vụ án:

1. Diễn Biến Sự Việc

  • Nguyên nhân mâu thuẫn: Do sự bất đồng trong việc khai thác quặng M tại khu vực V, xã P, huyện C1, tỉnh Hà Tĩnh giữa nhóm Nguyễn Viết H5 và nhóm Mai Đức H4, Nguyễn Viết L2, dẫn đến mâu thuẫn và nghi ngờ lẫn nhau.
  • Ngày 08/01/2013: Khoảng 14 giờ, Nguyễn Văn H (em trai Nguyễn Viết H5) được tin có xe ô tô chở quặng vào khu vực V và đi xe máy đến kiểm tra. Trên đường đi, H gặp Nguyễn Sỹ S (cháu của H) và Nguyễn Sỹ L1 (bố của S, anh rể của H) và rủ cùng đi.
  • Tại bãi quặng:
    • Thấy 3 xe ô tô chở quặng đi ra, Nguyễn Sỹ S chặn xe lại và biết xe chở quặng cho anh H4. S đấm vào mặt Bùi Quốc N1 (người làm công cho H4) và đe dọa không cho làm quặng nữa.
    • Nguyễn Viết H5 đến can thiệp để 3 xe ô tô chở quặng đi.
    • Nguyễn Sỹ S lấy xe máy của N1 chở Nguyễn Văn H và Nguyễn Sỹ L1 đi vào lán anh H4. Anh H4 sợ bỏ chạy lên núi khi biết H là em của H5.
    • Nguyễn Sỹ S lục soát lán H4 và lấy một khẩu súng thể thao (có 01 viên đạn) đưa cho H.
  • Tiếp tục xô xát:
    • Nguyễn Viết H5 sau khi đưa Nguyễn Văn N2 và Nguyễn Văn V về, gặp Nguyễn Viết L2 đang bốc gỗ. N2 và V xuống nhặt đá đánh L2.
    • L2 bỏ chạy và gọi Nguyễn Viết N (cháu của L2) cùng những người khác đến. L2 sau đó quay lại bãi gỗ, lấy khẩu súng hơi và dao đi bộ về.
    • Nguyễn Viết N và Nguyễn Viết T1 đi ô tô đến khu vực V, gặp L2. L2 mang khẩu súng hơi và dao đi ra.
    • Khi thấy Nguyễn Viết H5 điều khiển xe ô tô 52X-… đi tới, T1 điều khiển xe ô tô 37A-… đâm vào xe ô tô của H5.
    • H5 gọi điện cho Nguyễn Sỹ L1. L1 quay xe lại, gặp H và S, cùng nhau đi xe máy trở lại khu vực V.
    • Thấy một số người đập phá xe ô tô của H5, L1 cầm dao đi trước, H cầm khẩu súng thể thao, S đi sau.
    • Khi L1 cách xe ô tô 52X-… khoảng 7-8m, T cầm dao chém L1, L1 chém T. L2 chạy tới chém vào tay L1.
    • Nguyễn Viết N thấy H phía sau L1 khoảng 8-10m, cầm gậy tre chạy đến đánh H nhưng thấy H cầm súng và nòng súng hướng về phía mình nên N bỏ chạy.
    • H nổ súng, đạn trúng vào người anh L1 khi L1 đứng phía trên dốc, lưng quay về phía H.
    • N chạy lại thấy L1 ngã, dùng gậy tre đập 2 cái vào L1.

2. Hậu Quả

  • Hậu quả đối với Nguyễn Sỹ L1: Anh Nguyễn Sỹ L1 bị chết do đa chấn thương. Nguyên nhân chính dẫn đến chết là do chấn thương vùng ngực làm gãy cung trước xương sườn 3, 4, 5 bên trái dẫn đến vỡ mỏm tim.
  • Thiệt hại tài sản: Xe ô tô BKS 52X-… của H5 bị hư hỏng, trị giá thiệt hại là 94.048.976 đồng.
  • Vật chứng: Đầu đạn thể thao đường kính 5.54mm được tìm thấy trong người anh L1. Nòng súng thể thao số B4271 của H đã bị H đập gãy và vứt xuống sông.

3. Kết Luận Giám Định

  • Giám định pháp y (08/01/2013): Nạn nhân L1 có nhiều vết thương, trong đó chấn thương vùng ngực gây vỡ mỏm tim là nguyên nhân chính dẫn đến chết. Có 01 đầu đạn đường kính 5.54mm tìm thấy trong khoang liên sườn 6, 7.
  • Giám định súng (18/4/2013): Đầu đạn thu trong người nạn nhân bằng chì, đường kính 5.54mm. Nòng súng gửi giám định là nòng súng thể thao do Liên Xô sản xuất, bắn đạn thể thao cỡ 5.6mm. Do chỉ thu được nòng súng nên không thể bắn thực nghiệm để so sánh.
  • Thông báo kết quả giám định (23/4/2013): Khẩu súng ký hiệu Slavia 631 (của Nguyễn Viết L2) không phải là khẩu súng bắn ra đầu đạn thu được trong người nạn nhân L1.
  • Công văn Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hà Tĩnh (08/5/2013 và 05/8/2013): Nòng súng số hiệu B4271 bị cong, han rỉ, không thể sửa chữa, phục hồi để bắn. Vị trí phát hỏa cách nạn nhân 8-10m là phù hợp thực tế.
  • Công văn Viện khoa học hình sự Bộ Công an (11/11/2015): Nòng súng số hiệu B4271 là của khẩu súng thể thao TO3 8M, bắn đạn thể thao cỡ 5.6mm. Đầu đạn thu được trong người L1 là loại đạn thể thao cỡ 5.6mm, sau khi bắn qua nòng súng đường kính còn 5.54mm là hoàn toàn hợp lý. Khẳng định nòng súng B4271 có thể bắn được đầu đạn đường kính 5.54mm thu trong người L1.
  • Kết luận giám định (03/8/2016): Bên trong nòng súng số hiệu B 4271 có 4 rãnh xoắn, xoắn sang phải, phù hợp với đầu đạn thu được trong người L1.

4. Quá Trình Tố Tụng

  • Cáo trạng: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 93 Bộ luật hình sự.
  • Tại phiên tòa sơ thẩm:
    • Bị cáo Nguyễn Văn H không thừa nhận hành vi phạm tội, khẳng định có mang súng nhưng không sử dụng. Bị cáo cho rằng điều tra viên đã ép cung, mớm cung.
    • Hội đồng xét xử căn cứ vào các lời khai của bị cáo tại hồ sơ (ngày 02/4/2013 và 04/4/2013) có sự tham gia của luật sư, các chứng cứ và kết quả giám định để bác bỏ lời khai không nhận tội của bị cáo.
    • Hội đồng xét xử nhận định hành vi của Nguyễn Văn H đủ yếu tố cấu thành tội “Vô ý làm chết người” theo Điều 98 Bộ luật hình sự.
    • Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tại phiên tòa đã thay đổi tội danh từ “Giết người” sang “Vô ý làm chết người” theo khoản 1 Điều 98 Bộ luật hình sự.
    • Quyết định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vô ý làm chết người”. Áp dụng khoản 1 Điều 98 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam (12/6/2013).
    • Án phí: Buộc bị cáo nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.
    • Quyền kháng cáo: Bị cáo và đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc nhận được/niêm yết bản án.

5. Về Tố tụng và thủ tục

  • Tính hợp pháp của việc thay đổi tội danh:
    • Ban đầu, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 93 Bộ luật Hình sự (BLHS) tại bản cáo trạng số 32/CTr-KSĐT ngày 24/8/2016.
    • Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã thay đổi tội danh sang “Vô ý làm chết người” theo khoản 1 Điều 98 BLHS.
    • Việc thay đổi tội danh này là phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, cụ thể là Điều 268 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (trước đây là Điều 196 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003) cho phép Kiểm sát viên rút một phần quyết định truy tố hoặc thay đổi tội danh tại phiên tòa nếu xét thấy có căn cứ. Tòa án đã chấp nhận sự thay đổi này sau khi phân tích các chứng cứ và xác định hành vi của bị cáo phù hợp với tội danh mới.
  • Sự tham gia của luật sư:
    • Bản án ghi nhận sự tham gia của luật sư bào chữa cho bị cáo trong quá trình điều tra (Luật sư Mai Xuân Đ và Luật sư Dương Kim S2 tại Biên bản hỏi cung ngày 25/6/2013).
    • Sự có mặt của luật sư góp phần đảm bảo quyền bào chữa của bị cáo, đặc biệt khi bị cáo khai rằng bị điều tra viên ép cung, mớm cung. Tòa án đã xem xét và bác bỏ lập luận này, cho rằng các lời khai có sự tham gia của luật sư đều khách quan và không bị bức cung, mớm cung.
  • Thời hạn tạm giam:
    • Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/6/2013 và thời hạn tù tính từ ngày này. Điều này tuân thủ nguyên tắc về việc tính thời hạn tạm giam vào thời gian chấp hành hình phạt tù.

6. Về Nội dung và Chứng cứ

  • Đánh giá chứng cứ buộc tội:
    • Tòa án đã phân tích chi tiết các lời khai của bị cáo Nguyễn Văn H tại nhiều thời điểm khác nhau, các kết luận giám định pháp y, giám định khẩu súng và đầu đạn, cũng như lời khai của các nhân chứng.
    • Các lời khai ban đầu của bị cáo về việc cầm súng khua ngang, vô ý bóp cò làm súng nổ, và sau đó đập súng vứt xuống sông để phi tang được Tòa án chấp nhận là phù hợp với diễn biến vụ án và lời khai của các nhân chứng khác.
    • Tòa án đã bác bỏ lập luận của bị cáo về việc bị ép cung, mớm cung và việc không thừa nhận đã sử dụng súng, cho rằng bị cáo có hành vi quanh co, bao biện nhằm chối tội.
  • Các kết luận giám định:
    • Giám định pháp y: Kết luận số 02/PC54 ngày 08/01/2013 xác định nguyên nhân chết của nạn nhân Nguyễn Sỹ L1 là do đa vết thương, trong đó chấn thương vùng ngực làm gãy cung trước xương sườn và vỡ mỏm tim là nguyên nhân chính. Việc tìm thấy 01 đầu đạn đường kính 5.54mm trong người nạn nhân là chứng cứ quan trọng.
    • Giám định súng:
      • Kết luận số 1056 ngày 18/4/2013 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an xác định đầu đạn thu được trong người nạn nhân bằng chì, đường kính 5.54mm, và nòng súng số hiệu B4271 (thu được tại cầu C) là của súng thể thao TO3 8M, cỡ 5.6mm, có khả năng bắn được đầu đạn đường kính 5.54mm.
      • Tuy nhiên, cũng có một kết luận giám định khác (số 72/PC54 ngày 23/4/2013) khẳng định khẩu súng ký hiệu Slavia 631 (của Nguyễn Viết L2) không phải là khẩu súng bắn ra đầu đạn thu được. Tòa án đã xem xét và kết nối các chứng cứ để xác định khẩu súng của bị cáo H là nguyên nhân gây ra cái chết của nạn nhân.
    • Các kết luận giám định này đã cung cấp cơ sở khoa học vững chắc để xác định nguyên nhân cái chết và mối liên hệ giữa hành vi của bị cáo với hậu quả.
  • Đánh giá ý thức chủ quan của bị cáo:
    • Tòa án phân tích rằng cái chết của anh L1 là ngoài mong muốn của bị cáo, bởi anh L1 là anh rể và cùng phe với bị cáo trong vụ xô xát.
    • Hành vi cầm súng khua chống đỡ, vô ý bóp cò làm súng nổ được chấp nhận, chứng tỏ bị cáo không có ý định tước đoạt mạng sống của nạn nhân. Điều này là cơ sở quan trọng để chuyển tội danh từ “Giết người” sang “Vô ý làm chết người”.

7. Về Áp dụng pháp luật và Mức hình phạt

  • Phân tích tội danh “Vô ý làm chết người”:
    • Tòa án đã áp dụng khoản 1 Điều 98 BLHS (năm 1999) để xử phạt bị cáo. Điều này phù hợp với nguyên tắc áp dụng pháp luật có lợi cho bị cáo (nếu BLHS 2015 có mức hình phạt nhẹ hơn thì sẽ áp dụng, nhưng trong trường hợp này BLHS 1999 vẫn còn hiệu lực đối với hành vi phạm tội xảy ra vào thời điểm đó).
    • Mức hình phạt 04 (bốn) năm tù là phù hợp với khung hình phạt của khoản 1 Điều 98 BLHS 1999 quy định: “Người nào vô ý làm chết người thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm”.
  • Tính răn đe và giáo dục:
    • Tòa án đã quyết định mức án nghiêm khắc hơn đối với bị cáo do bị cáo khai báo quanh co, chưa thành khẩn, nhằm nâng cao tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Đây là một yếu tố thường được Tòa án xem xét khi lượng hình.

8. Về Dân sự và Án phí

  • Trách nhiệm dân sự và vật chứng:
    • Tòa án quyết định không xét về phần dân sự và vật chứng vì đã được giải quyết tại các bản án trước đó (Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2014/HSST và Bản án hình sự phúc thẩm số 286/2015/HSPT). Điều này thể hiện sự tuân thủ nguyên tắc không xét xử lại những vấn đề đã được giải quyết trong các vụ án liên quan.
  • Án phí:
    • Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm theo Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự và Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án. Đây là quy định chung về nghĩa vụ nộp án phí.

9. Về Quyền kháng cáo

  • Bản án đã thông báo rõ ràng về quyền kháng cáo của bị cáo và đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc ngày nhận được/niêm yết bản án. Điều này đảm bảo quyền lợi tố tụng của các bên.

Kết luận

Bản án số 04/2017/HSST của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã được xây dựng một cách chặt chẽ, dựa trên việc thu thập và đánh giá kỹ lưỡng các chứng cứ, kết luận giám định và lời khai. Việc thay đổi tội danh tại phiên tòa là phù hợp với quy định pháp luật và được giải thích hợp lý dựa trên ý thức chủ quan của bị cáo. Mức hình phạt được áp dụng nằm trong khung quy định và có xem xét đến thái độ khai báo của bị cáo nhằm đảm bảo tính răn đe và giáo dục.

——————————————

Liên hệ Luật sư tư vấn:

Luật TLA là một trong những đơn vị luật sư hàng đầu, với đội ngũ luật sư, cán bộ nhiều kinh nghiệm trong các lĩnh vực hình sự, dân sự, doanh nghiệp, hôn nhân và gia đình,… Chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ, giải đáp mọi thắc mắc về pháp lý của bạn. Nếu bạn còn thắc mắc về nội dung này, hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được giải đáp thắc mắc.

1. Luật sư Vũ Thị Phương Thanh, Chủ tịch HĐTV Công ty Luật TNHH TLA, Đoàn Luật sư Hà Nội, 

email: vtpthanh@tlalaw.vn;

2. Luật sư Trần Mỹ Lê, Giám đốc Công ty Luật TNHH TLA, Đoàn Luật sư Hà Nội; 

email: tmle@tlalaw.vn

Công ty Luật TNHH TLA

Địa chỉ: Tầng 7, số 6 Dương Đình Nghệ, Yên Hòa, Hà Nội

Website: https://tlalaw.com

Nguyễn Thùy Dương

Bài liên quan