
1. Tóm tắt bản án
Ngày 20/9/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, Tòa án đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 46/2021/TLST-DS ngày 26/3/2021 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2021/QĐXXST-DS ngày 23/7/2021. Các đương sự trong vụ án gồm:
– Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thu H, sinh năm 1967; cư trú tại: Số nhà 26, tổ 9, ấp L, xã T, thành phố N, tỉnh N; vắng mặt.
– Người đại diện hợp pháp của bà Trần Thị Thu H: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1984; cư trú tại: Số 76, đường T, khu phố X, phường Y, thành phố N, tỉnh N, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 25/6/2021); có mặt.
– Bị đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm 1965 và ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1964; cùng cư trú tại: Tổ 8, ấp H, xã V, huyện B, tỉnh N; bà T có mặt, ông N vắng mặt.
Nội dung vụ án:
Do có mối quan hệ quen biết và làm ăn mua bán mãng cầu với nhau, đồng thời là hàng xóm, bà H nhiều lần cho bà T vay tiền và các khoản vay trước đây đều được thanh toán đầy đủ. Đến ngày 27/9/2019 âm lịch (tương ứng ngày 25/10/2019 dương lịch), bà T tiếp tục vay của bà H số tiền 30.000.000 đồng để phục vụ hoạt động trồng và kinh doanh mãng cầu. Việc vay tiền được bà T tự tay viết và ký giấy nhận nợ với nội dung xác nhận việc vay mượn 30 triệu đồng.
Hai bên thỏa thuận bằng lời nói về lãi suất là 2.000 đồng/ngày cho mỗi 1.000.000 đồng vay (tương đương 6%/tháng); thời hạn hoàn trả nợ gốc là sau khi bà T thu hoạch mãng cầu, dự kiến khoảng ba tháng; khoản vay không có tài sản bảo đảm. Tuy nhiên, mặc dù đã nhiều lần được yêu cầu thanh toán, bà T vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ mà chỉ hứa hẹn kéo dài. Khoản tiền vay được sử dụng cho mục đích sản xuất, kinh doanh và chi tiêu chung của gia đình. Dù ông Nguyễn Văn N không trực tiếp ký giấy vay tiền, nhưng ông và bà T là vợ chồng, cùng sinh sống trong một hộ gia đình.
Trên cơ sở đó, bà H khởi kiện yêu cầu bà T và ông N phải liên đới thanh toán số tiền nợ gốc 30.000.000 đồng cùng khoản tiền lãi phát sinh theo quy định pháp luật, tính từ ngày lập giấy vay tiền.
2. Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên nhận định rằng quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các chủ thể tham gia tố tụng đều tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; không phát sinh vi phạm tố tụng.
Về nội dung, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự để:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thu H đối với bà Trần Thị T; buộc bà T phải thanh toán cho bà H số tiền gốc 30.000.000 đồng và tiền lãi theo mức lãi suất pháp luật quy định là 0,83%/tháng, tính từ ngày 28/12/2019 âm lịch đến ngày 28/7/2021 âm lịch, với tổng số tiền lãi là 4.731.000 đồng.
- Buộc bà Trần Thị T chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
3. Những vấn đề pháp lý được Tòa án xem xét và giải quyết
Thứ nhất, về nghĩa vụ trả nợ gốc
Đối với yêu cầu buộc bà Trần Thị T hoàn trả số tiền gốc 30.000.000 đồng, Tòa án xác định bị đơn đã thừa nhận việc vay tiền cũng như chữ viết, chữ ký trên giấy vay nợ do nguyên đơn xuất trình. Do đó, theo khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tình tiết không phải chứng minh. Trên cơ sở Điều 463 Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tồn tại hợp pháp của hợp đồng vay tài sản và nghĩa vụ hoàn trả nợ gốc của bà T.
Thứ hai, về tiền lãi
Nguyên đơn yêu cầu tính lãi với mức 10%/năm (0,83%/tháng) đối với khoản vay 30.000.000 đồng trong thời gian 19 tháng, từ ngày 28/12/2019 âm lịch đến ngày 28/7/2021 âm lịch. Mặc dù các bên thừa nhận đã thỏa thuận lãi suất thực tế là 6%/tháng, nhưng mức lãi này vượt quá giới hạn luật định. Bị đơn cho rằng đã trả lãi và cả nợ gốc, song không cung cấp được chứng cứ chứng minh.
Xét thấy đây là hợp đồng vay có lãi và bên vay đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, Tòa án căn cứ các Điều 466 và 468 Bộ luật Dân sự để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, áp dụng mức lãi suất theo quy định pháp luật. Tiền lãi được xác định là: 30.000.000 đồng × 10%/năm × 19 tháng = 4.731.000 đồng.
4. Bình luận các vấn đề pháp lý liên quan đến bản án
Thứ nhất, Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015 xác định hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận theo đó bên vay có nghĩa vụ hoàn trả tài sản cùng loại, đúng số lượng, chất lượng khi đến hạn, đồng thời chỉ phải trả lãi khi có thỏa thuận hoặc pháp luật quy định. Quy định này là cơ sở pháp lý trực tiếp để xác lập nghĩa vụ trả nợ trong vụ án.
Thứ hai, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 cho phép các bên tự do thỏa thuận lãi suất, nhưng không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay. Trường hợp có thỏa thuận về việc trả lãi nhưng không xác định rõ mức lãi suất và phát sinh tranh chấp, thì lãi suất được xác định bằng 50% của mức trần nêu trên. Việc Tòa án áp dụng mức 10%/năm trong vụ án là phù hợp với quy định này.
Thứ ba, khoản 4 và khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự quy định rõ hậu quả pháp lý khi bên vay không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, bao gồm nghĩa vụ trả lãi chậm trả và lãi quá hạn. Trên cơ sở đó, bên cho vay có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Từ những phân tích trên, có thể khẳng định việc Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết vụ án là phù hợp với bản chất pháp lý của quan hệ vay tài sản cũng như đúng tinh thần của pháp luật hiện hành.4. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định về hợp đồng vay tài sản
5. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng vay tài sản
Thứ nhất, cần tiếp tục hoàn thiện quy định về đối tượng của hợp đồng vay tài sản trong Bộ luật Dân sự nhằm bảo đảm tính rõ ràng, thống nhất và tránh xung đột với các văn bản pháp luật chuyên ngành khác.
Thứ hai, về hình thức hợp đồng, tham khảo kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia cho thấy việc quy định bắt buộc hình thức văn bản đối với các khoản vay có giá trị nhất định là cần thiết. Trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, có thể cân nhắc quy định hợp đồng vay tài sản từ 4.000.000 đồng trở lên phải được lập thành văn bản; đối với khoản vay từ 50.000.000 đồng trở lên, cần yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm và thực hiện công chứng, chứng thực nhằm hạn chế rủi ro pháp lý.
Thứ ba, đối với lãi suất, cần bổ sung quy định cụ thể về thời điểm, hình thức thỏa thuận lãi; hoàn thiện cơ chế tính lãi đối với các loại tài sản vay không phải là tiền; đồng thời thống nhất cách xác định lãi suất giữa các văn bản pháp luật có liên quan. Bên cạnh đó, cần có hướng dẫn rõ ràng về việc tính lãi trong trường hợp hợp đồng vay bị hủy bỏ hoặc bị đơn phương chấm dứt để bảo đảm quyền lợi của các bên.
Nhìn chung, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã có nhiều điểm tiến bộ trong điều chỉnh quan hệ vay tài sản, góp phần mở rộng quyền tự do thỏa thuận của các chủ thể. Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế nhất định gây tâm lý e ngại khi tham gia giao kết hợp đồng. Do đó, việc tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện pháp luật là cần thiết nhằm tạo hành lang pháp lý an toàn, minh bạch cho các quan hệ dân sự trong thực tiễn.
Liên hệ Luật sư tư vấn:
Liên hệ Luật sư tư vấn: Luật TLA là một trong những đơn vị luật sư hàng đầu, với đội ngũ luật sư, cán bộ nhiều kinh nghiệm trong các lĩnh vực hình sự, dân sự, doanh nghiệp, hôn nhân và gia đình,… Chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ, giải đáp mọi thắc mắc về pháp lý của bạn. Nếu bạn còn thắc mắc về nội dung này, hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được giải đáp thắc mắc.
1. Luật sư Vũ Thị Phương Thanh, Chủ tịch HĐTV Công ty Luật TNHH TLA, Đoàn Luật sư Hà Nội,
email: vtpthanh@tlalaw.vn;
2. Luật sư Trần Mỹ Lê, Giám đốc Công ty Luật TNHH TLA, Đoàn Luật sư Hà Nội;
email: tmle@tlalaw.vn
Địa chỉ: Tầng 7, số 06 Dương Đình Nghệ, Yên Hòa, Hà Nội
Website: https://tlalaw.vn/
Hotline: 0906246464