Bản án dân sự phúc thẩm số 76/2024/DS-PT ngày 10/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng 

I. TÓM TẮT BẢN ÁN

  • Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng (cấp phúc thẩm).
  • Thành phần đương sự:
    • Nguyên đơn: Ông Đặng Quang C (người đại diện theo ủy quyền: ông Đặng Quang D; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: bà Nguyễn Thị Thu T – Trợ giúp viên pháp lý).
    • Bị đơn: Bà Đào Thị Q.
    • Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Đặng Quang C và người đại diện theo ủy quyền ông Đặng Quang D.
  • Nội dung tranh chấp và quá trình diễn biến:
    • Năm 2006, ông C và bà Q góp tiền mua chung xe ô tô tải BKS 16H-5919 để kinh doanh vận tải. Đến tháng 10/2008, ông C bị tai nạn giao thông, mất khả năng lao động (mất 81% sức khỏe) nên dừng chạy xe.
    • Ngày 18/9/2009, tại Công an phường N (quận K), hai bên lập văn bản thỏa thuận định giá chiếc xe là 520.000.000 đồng; bà Q nhận xe và mua lại 1/2 giá trị xe của ông C với giá 260.000.000 đồng. Sau đó, phía gia đình ông C đã bàn giao giấy tờ xe cho bà Q.
    • Yêu cầu của nguyên đơn:
      1. Đòi tiền cước xe trong 10 năm (2006–2016) tính 1.000.000 đồng/ngày, tổng cộng 3.600.000.000 đồng; trừ đi 295.000.000 đồng bị đơn đã trả, yêu cầu bà Q thanh toán tiếp 3.305.000.000 đồng.
      2. Đòi bồi thường thiệt hại sức khỏe 900.000.000 đồng vì cho rằng bà Q gây tai nạn cho ông C vào năm 2008.
      3. Yêu cầu xem xét hành vi bị đơn cho uống thuốc lú, cản trở việc lấy vợ. (Tại phiên tòa sơ thẩm, ông D còn yêu cầu trả lại xe và tổng tiền là 4.500.000.000 đồng).
    • Quan điểm của bị đơn: Xác nhận mua lại 1/2 xe với giá 260.000.000 đồng và đã trả hết (160.000.000 đồng ngày 01/10/2009; 95.000.000 đồng chia 3 lần tại Công an quận K; bù trừ 5.000.000 đồng tiền bồi thường tai nạn trước đó). Tiền cước xe thời kỳ chạy chung đã chia hết từng chuyến; không có thỏa thuận trả cước sau năm 2009; không liên quan đến vụ tai nạn giao thông của ông C.
  • Kết quả xét xử sơ thẩm (Bản án số 26/2024/DS-ST): TAND huyện Thủy Nguyên bác toàn bộ các yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Quang C. Phía nguyên đơn kháng cáo toàn bộ bản án.
  • Phán quyết của Tòa án cấp phúc thẩm:
    • Bác toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền.
    • Giữ nguyên bản án sơ thẩm: Không chấp nhận yêu cầu đòi tiền cước xe/tiền bán xe 3.305.000.000 đồng; không chấp nhận yêu cầu bồi thường sức khỏe 900.000.000 đồng; không chấp nhận các cáo buộc về thuốc lú, cản trở kết hôn.
    • Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm cho ông C do thuộc diện người khuyết tật nặng và là thân nhân liệt sĩ.

II. BÌNH LUẬN CHI TIẾT BẢN ÁN SỐ 76/2024/DS-PT

1. Vấn đề tố tụng: Xử lý hành vi tự ý rời phiên tòa và phạm vi khởi kiện

  • Áp dụng Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự khi đương sự “bỏ về”:
    • Tại phiên tòa phúc thẩm mở lần thứ hai, mặc dù nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền có mặt nhưng đã tự ý bỏ về ngay phần thủ tục bắt đầu phiên tòa với lý do bị đơn vắng mặt.
    • Hội đồng xét xử đã giải thích rõ quyền, nghĩa vụ tố tụng nhưng đương sự vẫn từ chối tham gia. Việc Tòa án quyết định tiếp tục xét xử vắng mặt nguyên đơn (khi người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn vẫn có mặt tham gia tranh tụng) là chuẩn xác căn cứ theo Điều 296 BLTTDS, ngăn chặn tình trạng đương sự lạm dụng việc vắng mặt để kéo dài vụ án.
  • Tuân thủ giới hạn phạm vi khởi kiện (Điều 5 BLTTDS):
    • Trong quá trình tố tụng, người đại diện của nguyên đơn (ông D) bổ sung yêu cầu đòi lại chiếc xe ô tô BKS 16H-5919 và nâng tổng mức bồi thường lên 4.500.000.000 đồng. Tòa án các cấp từ chối xem xét yêu cầu đòi lại hiện vật xe ô tô là đúng pháp luật vì yêu cầu này vượt quá phạm vi đơn khởi kiện ban đầu, đồng thời mâu thuẫn trực tiếp với yêu cầu đòi tiền giá trị cước/tiền bán xe của chính nguyên đơn.

2. Vấn đề nội dung: Đánh giá giá trị chứng cứ và nghĩa vụ chứng minh

  • Nguyên tắc “tình tiết không phải chứng minh” (Điều 92 BLTTDS):
    • Lập luận của nguyên đơn về việc bị đơn còn nợ tiền bán xe và cước xe đã bị triệt tiêu bởi chính lời thừa nhận của các bên: Cả hai bên đều thống nhất bị đơn đã trả tổng cộng 295.000.000 đồng. Khoản tiền này vượt quá nghĩa vụ 260.000.000 đồng (tương đương 50% giá trị xe thỏa thuận tại Biên bản thỏa thuận ngày 18/9/2009 tại Công an phường N). Việc hai bên thống nhất về số tiền đã nhận là tình tiết không cần chứng minh theo Điều 92 BLTTDS, xác lập căn cứ vững chắc rằng nghĩa vụ thanh toán mua lại xe đã hoàn thành xong.
  • Bác yêu cầu đòi tiền cước xe 10 năm (3.305.000.000 đồng):
    • Bản chất quan hệ từ tháng 9/2009 đã chuyển hóa từ “đồng sở hữu, khai thác chung” sang “mua bán đứt đoạn phần sở hữu”. Khi bà Q đã mua lại phần của ông C và nhận bàn giao toàn bộ giấy tờ xe, bà Q trở thành chủ sở hữu toàn quyền đối với phương tiện.
    • Phía nguyên đơn suy diễn việc tính tiền cước 1.000.000 đồng/ngày liên tục trong 10 năm mà hoàn toàn không cung cấp được bất kỳ hợp đồng thuê xe hay thỏa thuận chia lợi nhuận nào phát sinh sau thời điểm năm 2009. Việc Tòa án bác bỏ yêu cầu thanh toán cước xe là hoàn toàn khách quan, 
  • Nghĩa vụ chứng minh trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (Điều 584, 590 BLDS):
    • Để yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe (900.000.000 đồng) và bồi thường tổn thất khác, người khởi kiện có nghĩa vụ chứng minh 04 yếu tố: (i) có hành vi trái pháp luật; (ii) có thiệt hại thực tế; (iii) có mối quan hệ nhân quả; (iv) có lỗi của bên gây thiệt hại.
    • Trong vụ án, ông C chỉ đưa ra tỷ lệ tổn thương cơ thể (81%) sau tai nạn giao thông năm 2008 nhưng không có tài liệu, hồ sơ xử lý tai nạn của cơ quan công an hay chứng cứ thể hiện bà Q là người gây ra vụ tai nạn này. Các cáo buộc cảm tính như “cho uống thuốc lú”, “không cho lấy vợ” hoàn toàn không có căn cứ y khoa hay chứng cứ pháp lý. Do đó, phán quyết không chấp nhận bồi thường là chặt chẽ và chuẩn mực.

3. Bài học thực tiễn rút ra từ bản án

  1. Ý nghĩa pháp lý của biên bản hòa giải/thỏa thuận tại cơ quan có thẩm quyền:
    • Thỏa thuận ngày 18/9/2009 tại Công an phường N về việc định giá và thanh toán tiền mua lại xe chính là văn bản then chốt định đoạt kết quả vụ án. Nó đóng vai trò là văn bản chốt nghĩa vụ, chấm dứt toàn bộ quan hệ đồng sở hữu trước đó. Các bên khi chấm dứt làm ăn chung cần lập văn bản rõ ràng, có bên thứ ba chứng kiến để tránh tranh chấp kéo dài nhiều năm sau.
  2. Tuân thủ nghĩa vụ chứng minh khi khởi kiện dân sự:
    • Nguyên đơn trong tố tụng dân sự phải chịu trách nhiệm về lời khai và yêu cầu của mình (“nghĩa vụ chứng minh thuộc về người đưa ra yêu cầu”). Các yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng không thể dựa trên suy đoán chủ quan hay biến cố sức khỏe cá nhân mà bắt buộc phải gắn liền với tài liệu điều tra, kết luận của cơ quan chức năng về hành vi vi phạm pháp luật của đối phương.
  3. Áp dụng chính sách an sinh xã hội trong tố tụng:
    • Mặc dù bị bác toàn bộ kháng cáo (thông thường phải chịu án phí phúc thẩm), Tòa án cấp phúc thẩm đã áp dụng chính xác Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 để miễn toàn bộ án phí cho ông C. Đây là điểm thể hiện tính nhân văn của pháp luật đối với đối tượng yếu thế (người khuyết tật nặng và là thân nhân liệt sĩ).

Liên hệ Luật sư tư vấn:

  • Luật TLA là một trong những đơn vị luật sư hàng đầu, với đội ngũ luật sư, cán bộ nhiều kinh nghiệm trong các lĩnh vực hình sự, dân sự, doanh nghiệp, hôn nhân và gia đình,… Chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ, giải đáp mọi thắc mắc về pháp lý của bạn. Nếu bạn còn thắc mắc về nội dung này, hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được giải đáp thắc mắc.
  • Luật sư Vũ Thị Phương Thanh, Chủ tịch HĐTV Công ty Luật TNHH TLA, Đoàn Luật sư Hà Nội, email: vtpthanh@tlalaw.vn
  • Luật sư Trần Mỹ Lê, Giám đốc Công ty Luật TNHH TLA, Đoàn Luật sư Hà Nội; email: tmle@tlalaw.vn
  • Địa chỉ: Tầng 7, số 06 Dương Đình Nghệ, Yên Hòa, Hà Nội
  • Website: https://tlalaw.vn/
  • Hotline: 0904267027

Vũ Thùy Linh

Bài liên quan