
- Tóm tắt nội dung vụ án
Ông Nguyễn Văn Đ (nguyên đơn) sinh năm 1952 có vợ đã mất từ lâu. Do Đ có tình cảm với bà Lê Phương A (bị đơn) sinh năm 1994 nên 02 bên đã thỏa thuận: bà A và ông Đ sẽ sống chung với nhau như vợ chồng với điều kiện ông tặng cho bà A 1 số tiền 4,5 tỷ đồng. Sau đó hai người dọn về sống chung, khoản tiền 4,5 tỷ cũng được chị A đem đi đầu tư và sinh lời 1,4 tỷ đồng. Nhưng được một thời gian, bà A thường xuyên bỏ về quê, có khi xin về lo cho gia đình bị bệnh, có khi bỏ về không có lý do, ông Đ nhiều lần gọi điện thoại nhưng A cố tình tránh né, không muốn sống chung với ông Đ nữa.
- Phán quyết của Toà án
Hội đồng xét xử nhận định: Xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp về hợp đồng tặng cho tài sản”. 02 người thừa nhận có sự thoả thuận tự nguyện, bà A được làm thủ tục tặng cho và về sống chung với ông Đ như vợ chồng. Tại thời điểm 02 bên thỏa thuận, bà A chưa ly hôn, thỏa thuận này đã vi phạm điều cấm của luật nên điều kiện tặng cho bị vô hiệu, trở thành hợp đồng tặng cho không có điều kiện. Ngoài ra, ông Đ không chứng minh được bà A có ý định bỏ ông, qua một số sự việc cho thấy 2 bên không muốn sống cùng nhau là do ông Đ không muốn tiếp tục chung sống. Từ những nhận định trên cho thấy yêu cầu của nguyên đơn là không có căn cứ chấp nhận.
Toà án tuyên xử: (1) Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Văn Đ về việc yêu cầu bị đơn bà Lê Phương A trả lại tài sản; (2) Về án phí: Miễn toàn bộ tiền án phí cho nguyên đơn Nguyễn Văn Đ; (3) Quyền kháng cáo: Án xử có mặt nguyên đơn, bị đơn, có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày tuyên án.
- Một số điểm chưa hợp lý trong quyết định của Toà án
Thứ nhất, việc Tòa án tuyên xử: không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Văn Đ về việc yêu cầu bị đơn bà Lê Phương A trả lại tài sản là chưa hợp lý.
Trong phần nhận định của Tòa án, hội đồng thẩm phán nhận định rằng đối tượng của hợp đồng tặng cho tài sản là 4.5 tỷ đồng, và điều kiện của hợp đồng là bà A phải về sống chung với ông Đ như vợ chồng, nhưng do bà A vẫn còn quan hệ hôn nhân với chồng của mình (bà A chưa ly hôn với chồng). Theo điểm c Khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân gia đình quy định cấm: “Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ”. Tức nghĩa, điều kiện tặng cho của hợp đồng này đang vi phạm điều cấm của luật. Lúc này Tòa án quyết định chỉ có điều kiện của hợp đồng tặng cho bị vô hiệu và hợp đồng trở thành hợp đồng tặng cho tài sản không có điều kiện là chưa hợp lý bởi lẽ sau:
Hợp đồng là một dạng của giao dịch dân sự (GDDS). Quy định về điều kiện có hiệu lực của GDDS, điểm c Khoản 1 Điều 117 BLDS 2015 nêu rõ: “Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.” Vậy xét trong vụ việc trên, giao dịch dân sự lập ra giữa ông Đ và bà A là hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện. Điều kiện tặng cho lúc này trở thành một phần nội dung của hợp đồng. Vậy chiếu theo điểm c Khoản 1 Điều 117, hợp đồng này đã không thể có hiệu lực ngay từ thời điểm hai bên giao dịch. Tòa án chỉ tuyên xử điều kiện của hợp đồng vô hiệu, các nội dung còn lại của hợp đồng vẫn có hiệu lực là trái với tinh thần của quy định về điều kiện có hiệu lực của GDDS.
Thứ hai, về quyền kháng cáo của các bên đương sự
Đương sự chỉ được giới hạn trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được thông báo,niêm yết. Điều này là chưa phù hợp căn cứ quy định tại Điều 273 của BLTTDS 2015 về “Thời hạn kháng cáo” có quy định về thời hạn kháng cáo bản án sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án và thời hạn kháng cáo đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày.
- Một số bình luận về việc giải quyết vụ án
Thứ nhất, về vấn đề tuyên hợp đồng vô hiệu
Việc xác định phạm vi hợp đồng vô hiệu là một trong những căn cứ dẫn tới hậu quả pháp lý khác nhau. Một hợp đồng vô hiệu từng phần (vô hiệu tương đối) sẽ chỉ có một phần nội dung vô hiệu, không có giá trị pháp lý và hợp đồng vẫn sẽ có hiệu lực, các bên vẫn thực hiện theo thỏa thuận đối với các nội dung còn lại. Khác với hợp đồng vô hiệu từng phần, hợp đồng vô hiệu toàn bộ (vô hiệu tuyệt đối) có toàn bộ nội dung bị tuyên vô hiệu khi chỉ một phần nội dung nhưng là nội dung quan trọng ảnh hưởng tới hiệu lực của hợp đồng vô hiệu. Hậu quả pháp lý của hai trường hợp này hoàn toàn khác nhau, vậy nên khi giải quyết các vụ việc cần xác định đúng phạm vi vô hiệu của hợp đồng. Vậy điều kiện tặng cho của hợp đồng tặng cho tài sản có được xem là nội dung quan trọng ảnh hưởng tới hiệu lực của hợp đồng? Chắc chắn là có, bởi phần điều kiện đó thể hiện ý chí của bên tặng mà nếu không có điều kiện này thì ngay từ đầu bên tặng sẽ không có lý do gì để thực hiện việc tặng cho tài sản và hợp đồng tặng cho cũng sẽ không tồn tại.
Nhằm tránh sự lạm quyền của bên tặng cho tài sản cũng như loại bỏ các thỏa thuận bất hợp pháp, khoản 1 Điều 462 BLDS 2015 quy định: “Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội”. Điều kiện tặng cho là một nội dung trong hợp đồng tặng cho, bởi vậy, việc ghi nhận yêu cầu này hoàn toàn phù hợp với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 117 BLDS 2015: “… nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội”. Tuy nhiên, Điều 462 BLDS 2015 chưa ghi nhận đầy đủ về điều kiện tặng cho nên đã gây ra không ít khó khăn trong quá trình giải quyết các tranh chấp trên thực tế liên quan đến tặng cho tài sản có điều kiện.
Theo quan điểm của tôi, nếu điều kiện tặng cho vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì hợp đồng tặng cho vô hiệu toàn bộ vì 02 lý do sau đây:
(i) Đối với tặng cho tài sản có điều kiện, để được nhận tài sản tặng cho thì bên được tặng cho phải hoàn thành điều kiện đã cam kết. Khi điều kiện tặng cho vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì điều khoản này vô hiệu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 117 BLDS 2015. Sự vô hiệu của điều kiện tặng cho ảnh hưởng trực tiếp và kéo theo sự vô hiệu của việc tặng cho tài sản. Do vậy, trong trường hợp này, hợp đồng tặng cho được xác định vô hiệu toàn bộ.
(ii) Nếu ghi nhận điều kiện tặng cho vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì coi như không có điều kiện tặng cho, việc tặng cho vẫn được thực hiện bình thường (trường hợp này tặng cho có điều kiện trở thành tặng cho không có điều kiện) thì không bảo đảm sự bình đẳng giữa hai bên; đồng thời không bảo đảm sự nghiêm minh của pháp luật. Theo pháp luật Việt Nam, tặng cho tài sản là hợp đồng, do đó, điều kiện tặng cho cũng được hình thành trên cơ sở thống nhất ý chí của các bên (có thể điều kiện tặng cho do hai bên cùng thỏa thuận bàn bạc trực tiếp hoặc bên tặng cho đưa ra điều kiện và được sự đồng ý của bên được tặng cho). Bởi vậy, khi điều kiện tặng cho vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì cả hai bên đều phải có trách nhiệm mà không thể chỉ quy định coi như điều kiện tặng cho không có và bên được tặng cho vẫn được nhận tài sản tặng cho.
Như vậy, trong bản án trên, hợp đồng tặng cho tài sản nên bị tuyên vô hiệu tuyệt đối theo Điều 117 về điều kiện có hiệu lực của GDDS và Điều 123 BLDS 2015 về GDDS vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội. Hậu quả pháp lý sẽ xử lý theo Điều 131 BLDS 2015.
Thứ hai, hậu quả pháp lý khi tuyên hợp đồng tặng cho tài sản vô hiệu
Hợp đồng bị tuyên vô hiệu tuyệt đối sẽ xử lý theo Điều 407 BLDS 2015 về hợp đồng vô hiệu và Điều 131 BLDS 2015 quy định về hậu quả pháp lý khi GDDS sự bị tuyên vô hiệu.
Một là, theo Khoản 2 Điều 131: “Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp không thể hoàn trả bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.” Đối tượng của hợp đồng tặng cho là số tiền 4.5 tỷ đồng, đây là giá trị ban đầu mà ông Đ đã tặng cho bà A như thỏa thuận. Vậy bà A phải hoàn trả lại cho ông Đ số tiền 4.5 tỷ đồng.
Hai là, giải quyết về vấn đề hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản tặng cho. Tuy BLDS 2015 chưa dự liệu rõ cách thức giải quyết đối với hoa lợi, lợi tức phát sinh trong thời gian bên được tặng cho chiếm hữu tài sản nhưng dựa theo tinh thần tại khoản 3 Điều 131 BLDS 2015: “Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó” và quy định tại Điều 224 BLDS 2015 về xác lập quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức thì nhóm xin đưa ra hướng giải quyết sau:
- Bên được tặng cho được quyền giữ lại hoa lợi, lợi tức mà không phải trả cho bên tặng cho kèm với tài sản gốc nếu tại thời điểm tài sản được tặng cho phát sinh hoa lợi, lợi tức mà bên được tặng cho đã xác lập quyền sở hữu đối với tài sản gốc tặng cho.
- Bên được tặng cho phải trả lại hoa lợi, lợi tức kèm theo tài sản gốc cho bên tặng cho nếu tại thời điểm tài sản phát sinh hoa lợi, lợi tức mà bên được tặng cho chưa xác lập quyền sở hữu đối với tài sản tặng cho.
Xét trong vụ việc trên, thời điểm trước khi phát sinh ra số lợi tức 1.4 tỷ đồng, bà A đã được xác lập quyền sở hữu khi ông Đ tiến hành tặng bà số tiền 4.5 tỷ đồng. Tại thời điểm đó, dù cho hợp đồng vô hiệu nhưng bà A vẫn đang là người chiếm hữu ngay tình. Bà A lúc này đã xác lập quyền sở hữu đối với tài sản gốc tặng cho, lợi tức phát sinh thêm có thể tách ra khỏi khối tài sản gốc đó, ngoài ra khoản tiền lãi cũng là khả năng đầu tư sinh lời đồng thời là công sức chính bà bỏ ra. Vì lẽ đó, tôi cho rằng bà A giữ lại khoản lợi tức là 1.4 tỷ đồng là hoàn toàn hợp lý.
Thứ ba, thời hạn kháng cáo
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 273 BLTTDS 2015 về thời hạn kháng cáo: “Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án;…”, vậy nên, thay vì 10 ngày, toà cần cho các đương sự được quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được thông báo, niêm yết.
————————————————
Liên hệ Luật sư tư vấn:
Luật TLA là một trong những đơn vị luật sư hàng đầu, với đội ngũ luật sư, cán bộ nhiều kinh nghiệm trong các lĩnh vực hình sự, dân sự, doanh nghiệp, hôn nhân và gia đình,… Chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ, giải đáp mọi thắc mắc về pháp lý của bạn. Nếu bạn còn thắc mắc về nội dung này, hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được giải đáp thắc mắc.
1. Luật sư Vũ Thị Phương Thanh, Chủ tịch HĐTV Công ty Luật TNHH TLA, Đoàn Luật sư Hà Nội,
email: vtpthanh@tlalaw.vn;
2. Luật sư Trần Mỹ Lê, Giám đốc Công ty Luật TNHH TLA, Đoàn Luật sư Hà Nội;
email: tmle@tlalaw.vn
Công ty Luật TNHH TLA
Địa chỉ: Tầng 7, số 6 Dương Đình Nghệ, Yên Hòa, Hà Nội
Website: https://tlalaw.com
Đinh Phương Thảo