BÌNH LUẬN BẢN ÁN SỐ 198/2018/DS-ST NGÀY 14/11/2018 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG GÂY RA

1. Tóm tắt vụ án

Vụ án tranh chấp phát sinh giữa nguyên đơn là bà Phan T G và ông Võ V B, và bị đơn là ông Trịnh V S, cùng với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Bùi V H.

Nội dung vụ tranh chấp:

  • Năm 2015, bà G và ông B xây nhà kho diện tích 853m^2.
  • Năm 2017, ông S xây dưng cửa hàng điện thoại liền kề.
  • Trong quá trình xây dựng, nguyên đơn cho rằng:

+ Công trình của ông S làm nứt tường, móng nhà kho của họ.

+ Vật liệu xây dựng rơi làm hư mái tôn và máng xối.

+ Ông S lấn sang đất của họ 3,6m ^2.

Nguyên đơn yêu cầu:

  • Buộc ông Trịnh V S bồi thường thiệt hại do nứt móng, vách nhà kho và hư hỏng mái tole, máng xối với tổng số tiền 131.000.000 đồng (sau đó rút lại phần yêu cầu bồi thường mái tole là 45.408.000 đồng và yêu cầu ông S khắc phục toàn bộ vết nứt tường, rút yêu cầu bồi thường đối với ông Bùi Văn Hiệp).
  • Buộc ông Trịnh V S phải phá bỏ tường nhà, cột, dỡ mái nhà cất lấn chiếm trả lại phần đất 3,6m^2.

Bị đơn trình bày:

  • Ông S đã xin phép xây dựng và tiến hành xây dựng sau khi bà G xác định ranh.
  • Ông S thừa nhận có lấn chiếm đất 3,6 m² theo kết quả đo đạc nhưng không đồng ý với kết quả này và yêu cầu đo đạc lại.
  • Ông S không đồng ý bồi thường thiệt hại do nứt vách tường vì cho rằng không xác định được có phải do công trình của ông gây ra.
  • Ông S đồng ý bồi thường phần đất lấn chiếm với giá 2.000.000 đồng/m² (theo kết quả định giá là 800.000 đồng/m²) và sửa chữa mái tole cho bà G.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:

  • Ông Bùi V H (thầu xây dựng) cho rằng việc thực hiện đúng bản vẽ và giấy phép, không liên quan đến việc ông S lấn ranh
  • Ông H không đồng ý liên đới bồi thường thiệt hại nứt vách tường.

Kết quả giám định và đo đạc:

  • Phần đất tranh chấp là 3,6m^2 thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà G và ông B.
  • Mái tole bị hư hỏng do công trình của ông S làm ảnh hưởng.
  • Tường nhà bị nứt (nứt chân chim) do co ngót vữa và chuyển vị trong quá trình chịu lực của đòn tay, không phải do công trình ông S gây ra.
  1. Nhận định của Tòa án
    2.1. Về tố tụng
  • Tòa án thụ lý vụ án đúng trình tự, dựa trên kết quả đo đạc cuối ngày 28/06/2018.
  • Việc nguyên đơn bổ sung yêu cầu kiện ông Bùi V H và rút lại yêu cầu bồi thường một phần không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu, phù hợp với Điều 605 Bộ luật dân sự 2015.
  • Các yêu cầu phản tố của ông S không được chấp thuận do nộp sau thời hạn công khai chứng cứ.
  • Tòa án không xem xét yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của ông S về việc dừng thi công xây dựng công trình, do ông S đã rút lại yêu cầu này tại phiên tòa.
    2.2. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thời hiệu
  • Quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định là “tranh chấp quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại do công trình xây dựng gây ra” theo Điều 174, Điều 605 Bộ luật Dân sự 2015, khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, và khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai 2013.
  • Thời hiệu đối với tranh chấp liên quan đến đất đai không xác định, và yêu cầu bồi thường thiệt hại vẫn còn thời hiệu.
    2.3. Về nội dung
  • Về yêu cầu tháo dỡ công trình lân chiếm: Tòa án không chấm nhận do công trình đã hoàn thành phần thô, việc đập bỏ khó khả thi và khó thi hành án. Thay vào đó, Tòa án công nhận sự tự nguyện của ông S bồi thường giá trị đất lấn chiếm với số tiền 2.000.000 đồng/m^2 (cao hơn giá định giá 800.000 đồng/m^2), tổng cộng 7.200.000 đồng cho 3,6 m^2.
  • Về bồi thường thiệt hại:
  • Tòa án chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại mái tole do công trình của ông S gây ra với số tiền 16.066.088 đồng (gồm chi phí vật tư 14.457.000 đồng và chi phí nhân công 1.609.088 đồng).
  • Tòa án không chấp nhận yêu cầu bồi thường và khắc phục vết nứt tường do xác định vết nứt không phải do công trình của ông S gây ra.
    2.4. Về chi phí tố tụng và án phí
  • Ông S phải chịu chi phí giám định thiệt hại 7.005.500 đồng.
  • Ông S phải trả lại cho bà G và ông B chi phí đo đạc, thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng.
  • Ông S phải chịu án phí dân sự sở thẩm 1.163.000 đồng.
  • Bà G và ông B được miến án phí do trên 60 tuổi và được nhận lại tiền tạm ứng án phí 1.300.000 đồng.

3. Quyết định của Tòa án

Tòa án quyết định:

  • Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị G và ông Võ Văn B.
  • Buộc ông Trịnh Văn S trả lại giá trị quyền sử dụng đất lấn chiếm 3,6 m² cho bà Phan Thị G và ông Võ Văn B với số tiền 7.200.000 đồng.

Ông S được quyền sử dụng phần đất tranh chấp 3,6 m² và có nghĩa vụ liên hệ cơ quan chuyên môn để điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Buộc ông Trịnh Văn S bồi thường thiệt hại mái tole do công trình xây dựng gây ra với số tiền 16.066.088 đồng.

Không chấp nhận yêu cầu bồi thường và khắc phục vết nứt tường.

Đình chỉ yêu cầu bồi thường của bà G và ông B đối với ông Bùi Văn H và yêu cầu bồi thường thiệt hại 85.592.000 đồng do rút yêu cầu.

Ông S phải chịu tiền lãi chậm thi hành án theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 kể từ ngày bản án có hiệu lực.

Ông S phải chịu chi phí tố tụng 10.005.500 đồng và án phí 1.163.000 đồng.

4. Bình luận và đánh giá

4.1. Về căn cứ pháp lý và áp dụng pháp luật

Bản án đã viện dẫn đầy đủ các căn cứ pháp lý liên quan, bao gồm:

  • Luật Đất đai 2013 (khoản 1 Điều 203).
  • Bộ luật Dân sự 2015 (Điều 174, Điều 579, Điều 605, khoản 2 Điều 468).
  • Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 (khoản 6, khoản 9 Điều 26, Điều 147, Điều 156, Điều 157, Điều 158, Điều 159, Điều 160, Điều 244).
  • Nghị quyết 326 của UBTV Quốc hội về án phí, lệ phí.

Việc viện dẫn các điều luật này cho thấy Tòa án đã xem xét vụ án một cách toàn diện dưới nhiều góc độ pháp luật khác nhau, từ đất đai, dân sự đến tố tụng và án phí.

4.2. Về việc giải quyết yêu cầu của các bên

a. Đối với yêu cầu tháo dỡ công trình lấn chiếm và bồi thường giá trị đất

Tính hợp lý: Tòa án đã cân nhắc thực tế thi hành án khi không buộc ông S phải tháo dỡ công trình lấn chiếm 3,6 m². Việc công trình đã hoàn thành phần thô và việc tháo dỡ có thể ảnh hưởng đến phần công trình còn lại, cũng như khó khăn trong việc thi hành án (do 02 căn nhà liền kề vách với nhau), là những lý do chính đáng để Tòa án lựa chọn phương án bồi thường bằng tiền.

Bảo vệ quyền lợi: Quyết định buộc ông S bồi thường 7.200.000 đồng cho 3,6 m² đất lấn chiếm, với giá 2.000.000 đồng/m², cao hơn mức định giá 800.000 đồng/m², là có lợi cho nguyên đơn và phù hợp với sự tự nguyện của bị đơn. Điều này đảm bảo quyền lợi của nguyên đơn được bù đắp một cách thỏa đáng.

Căn cứ pháp lý: Quyết định này phù hợp với Điều 605 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về bồi thường thiệt hại do công trình xây dựng gây ra.

b. Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại mái tole và vết nứt tường

Căn cứ khoa học: Tòa án đã dựa vào kết quả kiểm định của Công ty Cổ phần tư vấn xây dựng và giao thông An Giang để xác định nguyên nhân thiệt hại.

Mái tole: Được xác định bị hư hỏng do công trình của ông S làm ảnh hưởng, nên yêu cầu bồi thường 16.066.088 đồng là có cơ sở.

Vết nứt tường: Được kết luận do co ngót vữa và chuyển vị trong quá trình chịu lực của đòn tay, không phải do công trình của ông S gây ra. Do đó, việc không chấp nhận yêu cầu bồi thường phần này là hợp lý, dựa trên chứng cứ khách quan.

Tính khách quan: Việc Tòa án chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường dựa trên kết quả giám định độc lập thể hiện sự khách quan trong việc giải quyết vụ án.

c. Về xử lý các vấn đề tố tụng khác

Rút yêu cầu khởi kiện: Việc nguyên đơn rút yêu cầu bồi thường đối với ông Bùi V H và rút một phần số tiền yêu cầu bồi thường là hợp lệ và được Tòa án chấp nhận, thể hiện quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng.

Yêu cầu phản tố của bị đơn: Không chấp nhận yêu cầu phản tố nộp muộn là đúng quy định về thời hạn nộp chứng cứ, đảm bảo tính chặt chẽ của quy trình tố tụng.

4.3. Về chi phí tố tụng và án phí

Phân chia hợp lý: Tòa án đã phân chia chi phí tố tụng (giám định, đo đạc) và án phí một cách hợp lý, dựa trên lỗi và mức độ chấp nhận yêu cầu của các bên.

Chính sách nhân đạo: Việc miễn án phí cho nguyên đơn (bà G và ông B) do trên 60 tuổi là phù hợp với chính sách miễn, giảm án phí theo Nghị quyết 326 của UBTV Quốc hội.

5. Kết luận

Bản án số 198/2018/DS-ST của Tòa án nhân dân huyện An Phú đã giải quyết vụ án một cách toàn diện, có căn cứ pháp lý vững chắc, dựa trên các tài liệu, chứng cứ khách quan (biên bản đo đạc, kết quả giám định) và sự tự nguyện của các bên. Quyết định của Tòa án vừa đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, vừa cân nhắc tính khả thi trong thi hành án và sự khách quan trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Liên hệ Luật sư tư vấn: Luật TLA là một trong những đơn vị luật sư hàng đầu, với đội ngũ luật sư, cán bộ nhiều kinh nghiệm trong các lĩnh vực hình sự, dân sự, doanh nghiệp, hôn nhân và gia đình,… Chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ, giải đáp mọi thắc mắc về pháp lý của bạn. Nếu bạn còn thắc mắc về nội dung này, hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được giải đáp thắc mắc.

1. Luật sư Vũ Thị Phương Thanh, Chủ tịch HĐTV Công ty Luật TNHH TLA, Đoàn Luật sư Hà Nội, 
email: vtpthanh@tlalaw.vn;
2. Luật sư Trần Mỹ Lê, Giám đốc Công ty Luật TNHH TLA, Đoàn Luật sư Hà Nội; 
email: tmle@tlalaw.vn

Địa chỉ: Tầng 7, số 06 Dương Đình Nghệ, Yên Hòa, Hà Nội
Website: https://tlalaw.vn/
Hotline: 0906246464

Nguyễn Thùy Dương

Related Post