BÌNH LUẬN BẢN ÁN SỐ 14/2017/DS – ST VỀ VẬN CHUYỂN HÀNG HÓA 

  1. Tóm tắt bản án

Nguyên đơn: Công ty P (bà Đào Thị Mỹ H đại diện). Bị đơn: Ông Nguyễn Đình T (chủ Nhà xe T). Theo nguyên đơn, vào lúc 16 giờ 00 ngày 25/01/2016, Công ty P gửi 04 thùng thẻ cào điện thoại cho ông Nguyễn Đình T để gửi hàng cho các Đại lý bán thẻ card điện thoại tại thành phố H gồm: Đại lý Thanh Trúc với giá trị thùng card là 98.647.000 đồng; Đại lý Ánh Phượng là 99.033.000 đồng; Đại lý Anh Tới là 94.156.000 đồng; Đại lý Chị Hiền là 160.564.000 đồng. Dựa trên mối quan hệ quen biết trong kinh doanh nên mỗi đợt giao hàng thì nhân viên Công ty P sẽ giao trực tiếp cho ông T (chủ nhà xe T) mà không ký nhận hàng. Đêm 25/01/2016, Nhà xe T có giao trước 01 thùng hàng card điện thoại cho Đại lý Thanh Trúc trị giá 98.647.000 đồng. Đến 6 giờ sáng ngày 26/01/2016, các Đại lý khác đến nhận hàng thì Nhà xe T phát hiện mất hàng với giá trị là 353.753.000 đồng. Nguyên đơn yêu cầu ông T – chủ Nhà xe T bồi thường thiệt hại đúng số tiền trên. Theo bị đơn, khoảng 15 giờ 30, ngày 25/01/2016, ông Nguyễn Đình T cùng lái xe và phụ xe, điều khiển xe ô tô đến bến xe Thành phố N để nhận hàng vận chuyển. Đến 17 giờ 30 phút cùng ngày, Công ty P có chuyển giao cho Nhà xe T 04 thùng hàng, ông T đã ghi vào sổ cùng phụ xe bốc 04 thùng hàng lên ô tô để vận chuyển ra thành phố H. Khoảng 21 giờ 30 phút, ông T có chuyển 1 thùng hàng cho Đại lý Thanh Trúc. Sau đó ông T về nhà, còn lái xe, phụ xe và hàng hóa thì về trụ sở doanh nghiệp tại đường Nhật L, thành phố H giao cho bố mẹ ông T trông nom, bảo quản. Khoảng 8 giờ sáng ngày 26/01/2016, các đại lý ở thành phố nhận hàng thì mới phát hiện ra mất 3 thùng hàng thẻ cào điện thoại đã nhận vận chuyển của Công ty P (mỗi thùng hàng nặng từ 3 đến 5kg). Ông T khẳng định việc giao nhận vận chuyển giữa hai bên từ trước đến nay hoàn toàn không có ký kết văn bản, chứng từ giao nhận giữa hai bên. Mỗi khi gửi hàng, Công ty P không cung cấp thông tin thùng hàng và các hóa đơn (giá trị hàng,..) do đó Nhà xe T hoàn toàn không biết gì về giá trị của hàng hóa. Tại Bản án dân sự sơ thẩm của Toà án nhân dân thành phố H đã áp dụng Điều 26, Điều 58, Điều 262, Điều 229 của BLTTDS; Điều 74, Điều 530, Điều 531, Điều 532, Điều 543, Điều 535, Điều 536, Điều 537, Điều 541 BLDS 2015; Điều 73, 74 Luật Doanh Nghiệp 2014; Nghị quyết số 326/2016/U TVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về bồi thường thiệt hại về tài sản. Buộc ông Nguyễn Đình T, chủ Doanh nghiệp tư nhân T phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho Công ty P với số tiền là 313.753.000 đồng.

  1. Những điểm chưa phù hợp trong phán quyết mà Tòa án 

Thứ nhất, về áp dụng điều luật:

Tòa án cấp sơ thẩm xác định tranh chấp giữa ông Nguyễn Đình T (chủ doanh nghiệp tư nhân T) và Công ty TNHH MTV P là tranh chấp dân sự theo Điều 26 BLTTDS 2015. Tuy nhiên, doanh nghiệp T và Công ty TNHH MTV P đều có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận, căn cứ vào Khoản 1 Điều 30 BLTTDS 2015 quy định về những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì: Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận…. Theo đó, có thể thấy rõ đây là tranh chấp bồi thường thiệt hại về tài sản do vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng vận chuyển tài sản trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa tổ chức là Công ty TNHH MTV P và cá nhân là ông Nguyễn Đình T (chủ Doanh nghiệp tư nhân T). Chính vì vậy, trong trường hợp này, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào Điều 26 BLTTDS 2015 để xác định đây là tranh chấp dân sự là không chính xác.

Thứ hai, về đánh giá chứng cứ:

  • Về hợp đồng vận chuyển tài sản (cụ thể ở đây là thẻ cào điện thoại) giữa ông T và và công ty P được giao kết bằng lời nói và không có ký nhận.
  • Về hình thức giao nhận giữa hai bên là công ty P đóng gói, niêm phong các thùng hàng, ghi địa chỉ nơi nhận sau đó giao cho nhà xe T vận chuyển và không xác nhận giá trị cụ thể của tài sản bên trong thùng hàng.
  • Công ty P cung cấp hóa đơn giá trị gia tăng gửi cho các đại lý để làm cơ sở xác định giá trị tài sản bị thiệt hại. Tuy nhiên các hóa đơn này chỉ xác định số lượng thẻ, mệnh giá thẻ và tính tổng tiền, không xác định cụ thể thẻ cào của nhà mạng nào và hóa đơn này cũng không được chuyển giao cho nhà xe T khi thực hiện vận chuyển các thùng hàng.

Do vậy, việc tòa án xác định giá trị thiệt hại tài sản chỉ dựa trên các nguồn chứng cứ bao gồm: hóa đơn, chứng từ xuất và nhập hàng các loại thẻ cào điện thoại do công ty P cung cấp, các chứng từ giao dịch với các đại lý là hoàn toàn không có đủ cơ sở, chứng cứ và chưa hề có sự thống nhất của bị đơn.

Thứ ba, về xác định lỗi:

Tòa án cấp sơ thẩm đã không xác định lỗi của các bên. Do đây là yêu cầu bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng vận chuyển tài sản nên việc xác định lỗi của các bên để làm căn cứ phân chia trách nhiệm nghĩa vụ bồi thường thiệt hại là cần thiết. Vì vậy, tòa án đã thiếu sót khi không xác định lỗi của các bên.

  1. Quan điểm về việc giải quyết tranh chấp phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành.

Thứ nhất, về hiệu lực của bản án sơ thẩm số 14/2017/DS-ST:

  • Hủy toàn bộ bản án Dân sự sơ thẩm số 14/2017/DS-ST ngày 05 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế về tranh chấp bồi thường thiệt hại về tài sản, giữa :

+  Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên P, địa chỉ số 476 P, phường Đ, quận K, thành phố N.

+  Ông Nguyễn Đình T – Chủ Doanh nghiệp tư nhân T, địa chỉ số 85 L, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.

  • Giao lại cho Tòa án nhân dân thành phố H để giải quyết lại theo quy định pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án tranh chấp về kinh doanh thương mại theo Điều 30 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015.

Thứ hai, về quan hệ pháp luật và áp dụng điều luật:

Vì đây là tranh chấp bồi thường thiệt hại về tài sản do vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng vận chuyển tài sản trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa công ty P và ông T (và các bên có đăng ký kinh doanh, có mục đích lợi nhuận) nên cần xác định thẩm quyền giải quyết theo khoản 1 điều 30 BLTTDS về thẩm quyền giải quyết vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại.

Thứ ba, về phán quyết của Tòa án:

  • Toà án cần xác định lại về giá trị của 3 thùng hàng đã mất đề xác định đúng mức độ thiệt hại mà công ty P phải chịu; đồng thời, bác bỏ quy định xử phạt và quy định xác định giá trị thiệt hại tài sản của Toà án sơ thẩm.
  •  Vì hai bên đều có phần lỗi của mình và nhà xe T có trách nhiệm lớn hơn do để mất số hàng và gây ra thiệt hại đối với công ty P nên nhà xe T phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại của mình theo Điều 534 BLDS 2015 theo giá trị bằng 2/3 giá trị của 3 thùng hàng đã mất.
  • Về phía Công ty P phải chịu một phần thiệt hại do sai sót trong việc chuyển giao tài sản cho bên vận chuyển như không cung cấp thông tin cần thiết liên quan đến tài sản cần vận chuyển theo Điều 536 BLDS 2015.

————————————————

Liên hệ Luật sư tư vấn:

Luật TLA là một trong những đơn vị luật sư hàng đầu, với đội ngũ luật sư, cán bộ nhiều kinh nghiệm trong các lĩnh vực hình sự, dân sự, doanh nghiệp, hôn nhân và gia đình,… Chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ, giải đáp mọi thắc mắc về pháp lý của bạn. Nếu bạn còn thắc mắc về nội dung này, hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được giải đáp thắc mắc.

1. Luật sư Vũ Thị Phương Thanh, Chủ tịch HĐTV Công ty Luật TNHH TLA, Đoàn Luật sư Hà Nội, 

email: vtpthanh@tlalaw.vn;

2. Luật sư Trần Mỹ Lê, Giám đốc Công ty Luật TNHH TLA, Đoàn Luật sư Hà Nội; 

email: tmle@tlalaw.vn

Công ty Luật TNHH TLA

Địa chỉ: Tầng 7, số 6 Dương Đình Nghệ, Yên Hòa, Hà Nội

Đinh Phương Thảo

Bài liên quan