
- Tóm tắt vụ án
Ngày 11/6/2010, Ngân hàng ĐT ký Hợp đồng cung cấp tín dụng và các dịch vụ ngân hàng (số 411/2010/HĐ) với công ty TS. Theo đó, Ngân hàng ĐT cho Công ty TS vay một hạn mức tín dụng tối đa 50 tỷ đồng. Ngày 19/8/2011, hai bên tiếp tục ký HĐ số 530/2011/HĐ nâng hạn mức tín dụng tối đa cho Công ty TS lên 220 tỷ đồng với tài sản bảo đảm là: 25.000.000 cổ phần thuộc sở hữu của bà Phạm Thị Diệu H tại Công ty TS (tuy nhiên Hội đồng Quản trị của công ty đã phát hành khống 2 Giấy tờ chứng nhận này để làm tài sản bảo đảm việc vay vốn tại Ngân hàng ĐT, Ngân hàng VDB và để bán cho Công ty Tư vấn Đầu tư và Dịch vụ HM) và một số tài sản khác. Thực hiện hợp đồng số 530/2011/HĐ, Ngân hàng ĐT giải ngân cho Công ty TS vay tiền. Tuy nhiên, do hoạt động kinh doanh của công ty TS không thuận lợi nên không trả được các khoản nợ cho ngân hàng. Ngày 25/11/2015, Công ty TS nợ Ngân hàng ĐT các khoản tiền: 139 tỷ 200 triệu đồng (gốc) và 110.788.513.527 đồng (lãi); 2.573.960 USD (gốc) và 1.154.504,84 USD (lãi). Tháng 8/2012, Ngân hàng S đề nghị ngân hàng ĐT giải chấp, chuyển giao toàn bộ tài sản bảo đảm cùng hồ sơ liên quan đến tài sản của Công ty TS với điều kiện: Ngân hàng S sẽ phát hành thư bảo lãnh số 079.2012/BLTT/SHB.HO trị giá 215 tỷ 400 triệu đồng. Ngân hàng ĐT chấp nhận. Về sau, Công ty TS liên tục vi phạm thời hạn thanh toán và Ngân hàng S không phản hồi yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh từ Ngân hàng ĐT nên Ngân hàng ĐT đề nghị Tòa án buộc Ngân hàng S thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh (đến ngày 25/11/2015) gồm 249.962.513.527đ, 3.692.464,84 USD và lãi phát sinh từ 25/11/2015 đến khi thi hành xong bản án. Trước yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thanh toán của Ngân hàng ĐT, Ngân hàng S không đồng ý bởi Ngân hàng S cho rằng các khoản vay, việc nhận bảo đảm cho các khoản cấp tín dụng cho Công ty TS của Ngân hàng ĐT có nhiều sai phạm; không xác định được thời điểm phát sinh hiệu lực của Thư bảo lãnh do Ngân hàng ĐT chưa hoàn thành nghĩa vụ giải chấp và bàn giao toàn bộ tài sản, hồ sơ tài sản bảo đảm đã quy định tại Biên bản thỏa thuận. Theo Ngân hàng S, 25.000.000 cổ phần mang tên bà Phạm Thị Diệu H là không có vì đã bị kê khai khống để thực hiện giao dịch cầm cố, các tài sản giao dịch khác chưa được Ngân hàng ĐT thẩm định kỹ càng. Công ty TS cũng cho rằng việc bảo lãnh của S cho Công ty xuất phát từ việc sở hữu 25.000.000 cổ phần của bà H nên phải làm rõ việc sở hữu và thế chấp số cổ phần này.
- Phán quyết của Toà án
Tòa án Nhân dân quận Hoàn Kiếm đã xét xử và quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng ĐT đối với Ngân hàng S.
- Buộc Ngân hàng S thanh toán trả cho Ngân hàng ĐT theo hợp đồng số 411/2010/HĐ; số 530/20/HĐ; hợp đồng tín dụng ngắn hạn và hợp đồng chiết khấu bộ chứng từ đã ký giữa Ngân hàng ĐT với Công ty TS là 382.281.064.571 theo nội dung Thư bảo lãnh thanh toán số 079.2012/SHB.BO do S phát hành.
- S phải tiếp tục chịu lãi suất nợ quá hạn của khoản nợ nêu trên theo mức lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng đối với khoản nợ gốc.
- Một số điểm chưa hợp lý trong quyết định của Toà án
Thứ nhất, thiếu sót trong việc thu thập chứng cứ và không đủ cơ sở, không đảm bảo giải quyết đúng đắn vụ án.
Tòa án đã chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn về lãi trong hạn, lãi quá hạn nhưng lại không yêu cầu nguyên đơn cung cấp các thông báo của Ngân hàng về việc điều chỉnh về lãi suất theo từng thời kỳ để xem xét, xác định việc tính lãi suất của nguyên đơn có sự thay đổi, điều chỉnh theo quy định tại khoản 3 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 hay không mà đã chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về mức lãi.
Ngoài ra, tài sản thế chấp 25.000.000 cổ phần của bà H đã đem cầm cố và bán cho nhiều tổ chức tín dụng khác nhau nên phát sinh tranh chấp về tài sản. Bên cạnh đó hành vi cầm cố và bán số cổ phần cho nhiều tổ chức tín dụng khác nhau của bà H đang được Công an điều tra.
Như vậy, đây là thiếu sót trong việc thu thập chứng cứ và không đủ cơ sở, không đảm bảo giải quyết đúng đắn vụ án, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích của đương sự, của người thế chấp tài sản bảo đảm và của người bảo lãnh.
Thứ hai, về hiệu lực của Thư bảo lãnh.
Tòa án buộc Ngân hàng S phải thanh toán trả cho Ngân hàng ĐT 382.281.064.571đ (Ba trăm tám hai tỷ, hai trăm tám mốt nghìn, không trăm sáu tư triệu, năm trăm bảy mốt đồng) theo nội dung Thư bảo lãnh thanh toán số 079.2012/SHB.HO ngày 24/8/2012 do S phát hành.
Tuy nhiên, tại Điều 4 của Thư bảo lãnh đã quy định: Thư bảo lãnh có hiệu lực kể từ khi bên nhận bảo lãnh giải chấp toàn bộ tài sản, hồ sơ tài sản và các hình thức bảo đảm cho bên được bảo lãnh theo nội dung Biên bản làm việc ngày 23/8/2012.
Theo Biên bản thỏa thuận ngày 23/8/2012, Ngân hàng ĐT chỉ cam kết giải chấp khi đã có Thư bảo lãnh thanh toán nên không xác định được thời điểm phát sinh hiệu lực của Thư bảo lãnh. Vậy nên, thư bảo lãnh thanh toán của Ngân hàng S chưa phát sinh hiệu lực do Ngân hàng ĐT chưa hoàn thành nghĩa vụ giải chấp và bàn giao toàn bộ tài sản, hồ sơ tài sản và các hình thức bảo đảm cho Công ty TS theo nội dung đã thống nhất tại Biên bản thỏa thuận ngày 23/08/2012. Song, các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thế chấp, bên thế chấp và nhận thế chấp chưa giải chấp và chưa chưa xóa thế chấp tại Ngân hàng ĐT. Do đó, Tòa án không thể buộc Ngân hàng S phải thanh toán trả cho Ngân hàng ĐT số tiền 382.281.064.571đ.
Thứ ba, về người tham gia tố tụng.
Mặc dù ngân hàng ĐT khởi kiện yêu cầu Ngân hàng S thực hiện nghĩa vụ thanh toán thay cho Công ty TS theo Thư bảo lãnh nhưng Thư bảo lãnh này xuất phát từ thỏa thuận và giao dịch theo Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp tài sản giữa Công ty TS, bà H với Ngân hàng ĐT nên việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của bà H.
Tòa án đã ra thông báo không đưa bà H tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan để đưa vụ án ra xét xử do không tống đạt được văn bản tố tụng cho bà H (bà H đang vắng mặt tại nơi cư trú và tài liệu xác minh thể hiện bà H hiện đang sinh sống ở Mỹ). Nhưng Tòa án lại không tiến hành ủy thác tư pháp để thu thập chứng cứ và lấy lời khai, làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án.
Ngoài ra toà án cũng không đưa ông Nguyễn Văn T (chồng bà H) vào tham gia tố tụng. Bà H đã thế chấp tài sản trong thời kỳ hôn nhân với ông Trần Văn T (chồng bà H) được xác định là tài sản chung vợ chồng và việc bà H ủy quyền cho ông T đối với việc xử lý tài sản thế chấp theo thỏa thuận 3 bên giữa Công ty TS, Ngân hàng S và Ngân hàng ĐT lập ngày 23/8/2012.
Tòa án còn bỏ sót các tổ chức tín dụng, các doanh nghiệp. Đối với tài sản là 25.000.000 cổ phần của cá nhân bà H thế chấp cho Ngân hàng ĐT thì bà H còn thế chấp cho Ngân hàng VDB và bán cho Công ty Tư vấn Đầu tư và Dịch vụ HM. Theo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố CT thì 25.000.000 cổ phần này bà H đã cầm cố, bán cho 5 tổ chức tín dụng, doanh nghiệp khác nhau. Công văn số 117/30.12.2016 (BL 944) và Công văn số 338/PC 46 – Đ6 ngày 20/4/2016 (Bút lục 890) của Công an CT thì 05 đơn vị này là: Ngân hàng ĐT, Ngân hàng PT, Ngân hàng A, Ngân hàng AB, Ngân hàng E. Có nghĩa là 25.000.000 cổ phần này đã được thế chấp chồng lấn nhưng trên thực tế mới chỉ có Ngân hàng ĐT thực hiện việc giải chấp (trên giấy tờ), 4 ngân hàng còn lại chưa thể hiện ý kiến và chưa được Tòa án xác minh đối với việc thế chấp hay giải chấp là không thỏa đáng.
Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã không xác định và đưa bà H, ông T, các tổ chức tín dụng, các doanh nghiệp trên vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo quy định tại khoản 4 và khoản 6, Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là bỏ sót người tham gia tố tụng.
Thứ tư, kiểm tra, đánh giá xác thực của các hồ sơ chiết khấu.
Đối với việc kiểm tra, xem xét đánh giá các hồ sơ chiết khấu còn là cơ sở để xác định số dư nợ thực sự của Công ty TS bởi ngân hàng S phát hành thư bảo lãnh có trị giá 215.400.000.000 (chưa bao gồm lãi phát sinh từ thời điểm bảo lãnh cho đến khi hoàn tất nghĩa vụ trả nợ vay và không hủy ngang) nhưng chưa xác định được các hồ sơ chiết khấu là thật hay là giả thì chưa thể xác định được Công ty TS nợ gốc thực sự là bao nhiêu, nợ lãi là bao nhiêu để từ đó xác định trách nhiệm bảo lãnh của Ngân hàng S phả trả nợ thay đổi với 50% tổng số tiền Công ty TS nợ sau 24 tháng kề từ ngày thư bảo lãnh có hiệu lực và sau 36 tháng kể từ ngày thư bảo lãnh có hiệu lực.
- Một số bình luận về việc giải quyết vụ án
Thứ nhất, tòa án phải thu thập đầy đủ chứng cứ để có cơ sở giải quyết đúng đắn vụ án tránh gây thiệt hại đến quyền và lợi ích của đương sự, của người thế chấp tài sản bảo đảm và của người bảo lãnh.
Theo như quy định tại khoản 3 điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): “Trong trường hợp hoạt động ngân hàng có diễn biến bất thường, để bảo đảm an toàn của hệ thống tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước có quyền quy định cơ chế xác định phí, lãi suất trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng”. Cho nên đối với các khoản vay tại các Hợp đồng tín dụng ngắn hạn giữa Ngân hàng ĐT và Công ty TS (vay theo món), Tòa án cần phải xem xét sự điều chỉnh của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam theo thỏa thuận và quy định (quy định về việc điều chỉnh lãi suất cho vay phù hợp với mức biến động của lãi suất huy động vốn bằng đồng Việt Nam và mục tiêu, giải pháp điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam). Sau đó, Tòa án ra yêu cầu nguyên đơn cung cấp các Thông báo của Ngân hàng về việc điều chỉnh về lãi suất theo từng thời kỳ rồi mới đưa ra quyết định chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về lãi trong hạn, lãi quá hạn .
Thứ hai, tòa án phải xác định chính xác, đầy đủ chủ thể tham gia tố tụng để tránh bỏ sót người tham gia tố tụng và là cơ sở để việc giải quyết vụ án.
Ở trong vụ án này, Tòa án đã xác định thiếu chủ thể tham gia tố tụng là bà H, ông T và các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp mà bà H đã thế chấp cổ phần.
Theo khoản 4 điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
“Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Trường hợp việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nào đó mà không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án phải đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
6. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự là người tuy không yêu cầu giải quyết việc dân sự nhưng việc giải quyết việc dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc đương sự trong việc dân sự đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Trường hợp giải quyết việc dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nào đó mà không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án phải đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự.”
Qua đây ta có thể hiểu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mặc dù không khởi kiện nhưng nếu việc giải quyết vụ án dân sự liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ thì họ có quyền được tham gia tố tụng và nếu không ai đề nghị đưa họ vào thì Tòa án phải có trách nhiệm đó.
Như vậy, theo khoản 4, 6 điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì Tòa án phải đưa các chủ thể trên vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo đúng trình tự pháp luật.
Thứ ba, tòa án cần dựa vào các căn cứ trong bản án sơ thẩm để bác bỏ đơn khởi kiện của Ngân hàng ĐT.
Theo lời khai của các bên, Thư bảo lãnh của ngân hàng S chỉ có giá trị pháp lý khi khoản vay, giao dịch chiết khấu bộ chứng từ của Ngân hàng ĐT là hợp pháp. Đồng thời, cũng theo chứng cứ các bên đưa ra, Điều 4 của Thư bảo lãnh quy định: “Thư bảo lãnh có hiệu lực kể từ khi bên nhận bảo lãnh giải chấp toàn bộ tài sản, hồ sơ tài sản và các hình thức bảo đảm cho bên được bảo lãnh theo nội dung Biên bản làm việc ngày 23/08/2012.”
Như vậy, chứng thư bảo lãnh của ngân hàng S chỉ có hiệu lực từ thời điểm Ngân hàng ĐT giải chấp toàn bộ tài sản bảo đảm của công ty TS, đồng thời chỉ có giá trị pháp lý khi toàn bộ khoản vay, giao dịch chiết khấu bộ chứng từ của Ngân hàng ĐT là hợp pháp.
Nhận thấy rằng ngân hàng ĐT đã mắc nhiều sai phạm khi thẩm định cho vay và quản lý tài sản bảo đảm, ngân hàng chưa hoàn thành nghĩa vụ giải chấp và bàn giao toàn bộ tài sản, hồ sơ tài sản bảo đảm theo quy định tại biên bản thỏa thuận. Do đó, thư bảo lãnh thanh toán của Ngân hàng S chưa phát sinh hiệu lực. Như vậy, theo quan điểm của tôi, Tòa án cần dựa vào căn cứ trên để bác đơn kiện của Ngân hàng ĐT.
————————————————
Liên hệ Luật sư tư vấn:
Luật TLA là một trong những đơn vị luật sư hàng đầu, với đội ngũ luật sư, cán bộ nhiều kinh nghiệm trong các lĩnh vực hình sự, dân sự, doanh nghiệp, hôn nhân và gia đình,… Chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ, giải đáp mọi thắc mắc về pháp lý của bạn. Nếu bạn còn thắc mắc về nội dung này, hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được giải đáp thắc mắc.
1. Luật sư Vũ Thị Phương Thanh, Chủ tịch HĐTV Công ty Luật TNHH TLA, Đoàn Luật sư Hà Nội,
email: vtpthanh@tlalaw.vn;
2. Luật sư Trần Mỹ Lê, Giám đốc Công ty Luật TNHH TLA, Đoàn Luật sư Hà Nội;
email: tmle@tlalaw.vn
Công ty Luật TNHH TLA
Địa chỉ: Tầng 7, số 6 Dương Đình Nghệ, Yên Hòa, Hà Nội
Website: https://tlalaw.com
Đinh Phương Thảo