QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ VIỆC CỬ NGƯỜI ĐẠI DIỆN PHẦN DI SẢN THỪA KẾ 

Trong các vụ việc thừa kế, đặc biệt khi di sản chưa được chia và có nhiều đồng thừa kế, việc quản lý, bảo quản tài sản chung có ý nghĩa quan trọng để tránh thất thoát hoặc tranh chấp. Pháp luật dân sự Việt Nam cho phép các đồng thừa kế cử ra một người đại diện quản lý phần di sản này, nhằm thống nhất hành vi pháp lý và bảo vệ quyền lợi chung. Tuy nhiên, không phải ai cũng nắm rõ căn cứ pháp lý, điều kiện, quyền và nghĩa vụ của người đại diện phần di sản thừa kế, dẫn đến nhiều vướng mắc trong thực tiễn.

  1. Đại diện thừa kế là gì?

Theo Khoản 1 Điều 134 Bộ luật dân sự 2015 quy định, đại diện là việc cá nhân hoặc tổ chức nhân danh và vì lợi ích của các cá nhân hoặc tổ chức khác để xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự. Đồng thời, giao dịch mà pháp luật quy định phải tự xác lập thì các bạn không được phép thông qua người đại diện để tiến hành. Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có định nghĩa cụ thể về đại diện thừa kế là gì. Tuy nhiên, có thể hiểu là “khi có nhiều người cùng hàng thừa kế, người trong gia đình sẽ thỏa thuận và cử ra một người đại diện chung để nhận di sản”. Ví dụ, các đồng thừa kế có thể cử một người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất. Người đại diện cần có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm hình sự với hành động của mình.

Từ cách định nghĩa trên có thể hiểu rằng, đại diện thừa kế có 2 loại:

  • Đại diện theo pháp luật: Quyền đại diện này được thiết lập theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật.
  • Đại diện theo ủy quyền: Quyền đại diện này được thiết lập thông qua sự ủy quyền giữa người đại diện và người được đại diện.
  1. Những người thừa kế muốn thỏa thuận cho người khác làm đại diện phần di sản thừa kế thì cần phải làm gì?

Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 về người thừa kế theo pháp luật theo đó:

“ Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”

Trường hợp các đồng thừa kế là các người con, sẽ thuộc hàng thừa kế thứ nhất muốn cho người cháu đại diện di sản thừa kế đó thì tại khoản 8 điều 32 Thông tư 10/2024/TT-BTNMT về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có quy định “…..Trường hợp những người được thừa kế mà cấp một Giấy chứng nhận cho người đại diện thì trên Giấy chứng nhận ghi thông tin người đại diện theo quy định tại các khoản 1, 3 và 4 Điều này, dòng tiếp theo ghi “là đại diện cho những người được thừa kế”. Tại mã QR của Giấy chứng nhận thể hiện đầy đủ thông tin của những người được thừa kế.” 

Như vậy, trường hợp này các đồng thừa kế có thể lập một bản thỏa thuận cho một người đại diện đối với tài sản thừa kế và những người ở hàng thừa kế thứ nhất phải ghi rõ về việc từ chối nhận di sản. Văn bản thỏa thuận phải được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật. Đồng thời, trên Giấy chứng nhận ghi thông tin của người đại diện theo quy định tại khoản 1 Điều này, dòng tiếp theo ghi “Là người đại diện của những người được thừa kế”

  1. Đại diện thừa kế có được tự ý bán đất theo ý muốn không?

Theo phân tích ở mục 2, mặc dù người đại diện sẽ được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận vẫn sẽ ghi rõ người đại diện này là đại diện cho những người thừa kế nào. Về cơ bản, quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở cũng như các tài sản khác gắn liền với đất vẫn thuộc về những người thừa kế chính thức.

Người đại diện chỉ thay mặt cho người thừa kế thực hiện các thủ tục và giao dịch mua bán với bên thứ ba liên quan đến bất động sản, mà không có quyền định đoạt tài sản. Các đồng thừa kế được ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đồng sở hữu chung đối với bất động sản này. Chỉ chủ sở hữu tài sản hợp pháp mới có đầy đủ quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản.

Vì vậy, khi người đại diện thừa kế thực hiện các giao dịch liên quan đến bất động sản và tài sản trên đất, họ cần có sự đồng ý của tất cả các đồng thừa kế. Người đại diện không được phép tự ý bán đất nếu chưa có sự chấp thuận của các đồng thừa kế.

Nếu người đại diện tự ý bán đất mà không hỏi ý kiến của các đồng thừa kế, hợp đồng mua bán đó sẽ bị coi là vô hiệu do không đáp ứng được điều kiện về chủ thể có quyền giao kết hợp đồng. Khi đó, các đồng thừa kế có quyền khởi kiện và yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng mua bán vô hiệu. Khi Tòa án đã ra bản án hoặc quyết định tuyên hợp đồng vô hiệu, các bên tham gia hợp đồng sẽ phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận: bên mua phải trả lại nhà cho bên bán, và bên bán phải trả lại tiền cho bên mua.

  1. Trường hợp một trong các chủ sở hữu chung đối với bất động sản chết mà không có người thừa kế thì phần quyền sở hữu đó xử lý như thế nào?

Căn cứ theo khoản 4 Điều 218 Bộ luật Dân sự 2015 quy định như sau:

“ Định đoạt tài sản chung

4. Trường hợp một trong các chủ sở hữu chung đối với bất động sản từ bỏ phần quyền sở hữu của mình hoặc khi người này chết mà không có người thừa kế thì phần quyền sở hữu đó thuộc về Nhà nước, trừ trường hợp sở hữu chung của cộng đồng thì thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu chung còn lại.

…” 

Do đó, khi một trong các chủ sở hữu chung đối với bất động sản từ bỏ phần quyền sở hữu của mình hoặc khi người này chết mà không có người thừa kế thì phần quyền sở hữu đó thuộc về Nhà nước, trừ trường hợp sở hữu chung cộng đồng.

Như vậy, cơ chế cử người đại diện phần di sản thừa kế là giải pháp pháp lý giúp việc quản lý, bảo quản tài sản thừa kế trở nên tập trung và hiệu quả hơn, đặc biệt trong giai đoạn di sản chưa được phân chia. Để tránh phát sinh tranh chấp, các đồng thừa kế cần lập văn bản thỏa thuận rõ ràng về phạm vi đại diện, quyền và nghĩa vụ của người được cử, đồng thời tuân thủ đầy đủ quy định tại Bộ luật Dân sự và các văn bản liên quan. Việc hiểu đúng và áp dụng đúng quy định không chỉ bảo vệ giá trị di sản mà còn góp phần duy trì sự hòa thuận giữa những người thừa kế.

————————————————

Liên hệ Luật sư tư vấn:

Luật TLA là một trong những đơn vị luật sư hàng đầu, với đội ngũ luật sư, cán bộ nhiều kinh nghiệm trong các lĩnh vực hình sự, dân sự, doanh nghiệp, hôn nhân và gia đình,… Chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ, giải đáp mọi thắc mắc về pháp lý của bạn. Nếu bạn còn thắc mắc về nội dung này, hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được giải đáp thắc mắc.

1. Luật sư Vũ Thị Phương Thanh, Giám đốc Công ty Luật TNHH TLA, Đoàn Luật sư Hà Nội, 

email: vtpthanh@tlalaw.vn;

2. Luật sư Trần Mỹ Lê, Chủ tịch HĐTV Công ty Luật TNHH TLA, Đoàn Luật sư Hà Nội; 

email: tmle@tlalaw.vn

Công ty Luật TNHH TLA

Địa chỉ: Tầng 7, số 6 Dương Đình Nghệ, Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội

Website: https://tlalaw.vn/

Đinh Phương Thảo

Bài liên quan